Ha 3
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Kulish and Puluj Bible (1905)
1Lời cầu nguyện của đấng tiên tri Ha-ba-cúc, về thể thi ca.
1Молитва пророка Аввакума, до сьпіву:
2Hỡi Đức Giê-hô-va! Tôi đã nghe danh tiếng Ngài thì tôi sợ hãi. Hỡi Đức Giê-hô-va! xin Ngài lại khiến công việc Ngài dấy lên giữa các năm, Tỏ ra cho biết giữa các năm; Khi Ngài đang giận, xin hãy nhớ lại sự thương xót!
2Господи, я почув вість од тебе й злякався. Господи! доверши твоє дїло посеред лїт (нашої недолї), посеред лїт обяви його, спогадай в гнїві про милосердє.
3Đức Chúa Trời đến từ Thê-man, Đấng Thánh đến từ núi Pha-ran. Vinh hiển Ngài bao phủ các từng trời, Đất đầy sự khen ngợi Ngài.
3Колись прийшов був Бог від Теману, Сьвятий — від Паран-гори. Покрила небеса величність його й славою сповнив він землю.
4Sự chói rạng của Ngài như ánh sáng, Những tia sáng ra từ tay Ngài, Quyền năng Ngài giấu trong nơi đó.
4Сяєво її, як сонце, сьвітило; од руки його проміннє, там утаєна його сила.
5Oân dịch đi trước mặt Ngài, Tên lửa ra nơi chân Ngài.
5Перед ним ійшла зараза, поза ним — палючий вітер.
6Ngài đứng và đo đất; Ngài nhìn xem, làm tan tác các dân tộc; Các núi hằng còn đều tan nát, Các đồi đời đời đều quì xuống: Các đường lối Ngài giống như thuở xưa.
6Ступив він — земля струсилась; глянув — і затремтїли народи; розпались гори вічні, первовічні узгірря позападались; дороги його — вічні.
7Ta thấy những trại của Cu-san bị hoạn nạn, Những màn cháng của đất Ma-đi-an lung lay.
7Знаю я, як посумнїли були намети Етіопські, як затремтїли шатри Мадіямські.
8Có phải Đức Giê-hô-va nổi giận nghịch cùng các sông chăng? Cơn giận Ngài có phải nổi lên nghịch cùng các sông chăng? Có phải sự thạnh nộ Ngài nổi lên nghịch cùng biển, Khi Ngài cỡi ngựa cỡi xe đặng giải cứu chăng?
8А хиба ж на ріки не запалав був гнїв твій, Господи, на ріки — досада твоя, а на море — ярость твоя, коли ти, неначе всїв був на конї твої, й на колесницї рятуючі?
9Cung Ngài ra khỏi bao; Lời thề cùng các chi phái là lời chắc chắn. Ngài phân rẽ đất làm cho sông chảy ra.
9Ти напяв лука твого, як се клятьбою обіцяв був поколїнням; ти роздїляв води землї.
10Các núi thấy Ngài thì đều sợ hãi; Các dòng nước chảy mạnh, Vực sâu vang tiếng, Rún biển giơ tay lên cao.
10Вгледївши тебе, затрусились гори водні; води перестали плисти, безодня застогнала голосно й неначе зняла руки свої в гору.
11Mặt trời mặt trăng dừng lại trong nơi ở nó; Vì cớ bóng sáng của những tên Ngài, Và chớp nháng của gươm giáo Ngài chiếu ra.
11Сонце й місяць зʼупинились на свойму місцї перед сяєвом лїтаючих стріл твоїх, перед сьвітлом блискаючих списів твоїх.
12Ngài nổi giận bước qua đất; Và đang cơn thạnh nộ giày đạp các dân tộc.
12У гнїві ступав єси по землї, в досадї розтоптував народи.
13Ngài đi ra đặng cứu dân mình, Đi ra đặng cứu đấng chịu xức dầu của mình; Ngài đánh thương đầu kẻ ác, phá nhà nó, Làm trần trụi nền nó cho đến cổ.
13Ти виступив на рятунок твого народу, на підмогу помазанникові твойму. Ти сокрушив голову безбожного роду; обнажив його від підошви до верху.
14Ngài lấy giáo nó đâm đầu lính chiến nó, Chúng nó đến như trận bão đặng làm tan tác tôi; Chúng nó vui thích như nuốt kẻ bần cùng cách kín giấu.
14Ти пробив його ж списами голови гетьманів його, коли вони примчались бурею, щоб мене розбити, й радувались, як той, що надїється, бідолаху в тайному місцї пожерти.
15Ngài cỡi ngựa đạp trên biển, Trong đống nước lớn.
15Ти ж, мов би кіньми своїми, прочинив нам дорогу через море, через безодню вод великих.
16Tôi đã nghe, thì thân thể tôi run rẩy, Nghe tiếng Ngài thì môi tôi rung động; Sự mục nát nhập vào xương tôi; và tôi run rẩy trong chỗ tôi, Vì tôi phải nín lặng để chờ ngày hoạn nạn, Là ngày có dân đến xâm chiếm chúng tôi.
16Почувши-згадавши про се, затрусилось внутро в менї; на вість про се задріжали губи в мене; біль дійшов аж до костей моїх, і захиталось місце підо мною; та менї треба бути спокійним в день нужди, коли наступить на мій нарід грабіжник його.
17Vì dầu cây vả sẽ không nứt lộc nữa, Và sẽ không có trái trên những cây nho; Cây ô-li-ve không sanh sản, Và chẳng có ruộng nào sanh ra đồ ăn; Bầy chiên sẽ bị dứt khỏi ràn, Và không có bầy bò trong chuồng nữa.
17Та хоч би не цьвіла фиґовина, не родив виноградник, і оливина завяла; хоч би нива не дала хлїба, не стало овець в кошарі а товару в стайнях, —
18Dầu vậy, tôi sẽ vui mừng trong Đức Giê-hô-va, Tôi sẽ hớn hở trong Đức Chúa Trời của sự cứu rỗi tôi.
18То я й тодї буду веселий в Господї, й радуватись буду Богом спасення мого.
19Đức Giê-hô-va là Chúa, là sức mạnh của tôi, Ngài làm cho chân tôi giống như chân con hươu, Khiến tôi đi trên các nơi cao của mình. (Phó cho quản phường nhạc, khảy đàn mà hát bài nầy).
19Бо Господь Бог — моя сила, він дасть менї сугакові ноги й виведе мене на високі гори.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.