E-xơ-ra 4
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Kulish and Puluj Bible (1905)
1Khi các thù nghịch của Giu-đa và Bên-gia-min hay rằng những người đã bị bắt làm phu tù được về cất đền thờ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên,
1І почули вороги Юдині та Беняминові, що повернувші з полону будують храм Господеві, Богові Ізрайлевому;
2bèn đi đến Xô-rô-ba-bên và các trưởng tộc mà nói rằng: Chúng tôi muốn đồng xây cất với các ngươi, vì chúng tôi tìm cầu Đức Chúa Trời của anh em, cũng như anh em, và chúng tôi đã tế lễ cho Ngài từ đời Ê-sa-Ha-đôn, vua A-si-ri, đem chúng tôi lên đây.
2І прийшли до Зоробабеля і до голов над поколїннями та й сказали їм: Будемо й ми будувати з вами, бо, як ви, так і ми звертаємось до Бога вашого й приносимо йому жертви від часів Асардана, царя Сирийського, що перевів нас сюди.
3Nhưng Xô-rô-ba-bên, Giê-sua, và các trưởng tộc khác của Y-sơ-ra-ên, đáp với chúng rằng: Các ngươi chẳng được phần chung với chúng ta đặng cất một đền thờ cho Đức Chúa Trời của chúng ta; song chúng ta, chỉ một mình chúng ta, sẽ cất một đền cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, y như Si-ru, vua Phe-rơ-sơ, đã truyền bảo chúng ta.
3І відказав їм Зоробабель та Ісус і инчі голови поколїнь Ізраїлських: Не будувати вам вкупі з нами дому Богові нашому; ми самі будувати мемо дом Господеві, Богові Ізрайлевому, як звелїв нам царь Кир, царь Перський.
4Bấy giờ dân của xứ xui cho dân Giu-đa ngã lòng nhát sợ, trong khi họ xây cất;
4І почав народ того краю здержувати руки народу Юдейського та перепиняти його в будуваннї;
5và trọn đời Si-ru, vua Phe-rơ-sơ, cho đến đời Đa-ri-út, vua Phe-rơ-sơ, trị vì, chúng đem hối lộ cho những mưu sĩ chống với dân Giu-đa, đặng phá việc họ lo toan.
5І підкуповували проти їх порадників, щоб у нїщо обернути задумане ними дїло — через увесь час життя Кира, царя Перського, аж до царювання Дарія, Перського царя.
6Nhằm đời A-suê-ru, vừa bắt đầu lên ngôi, thì chúng làm một cái trạng cáo dân Giu-đa và dân cư Giê-ru-sa-lem.
6А за царювання Агасвера, на початку його царювання, написали обвину на осадників Юдеї та Ерусалиму.
7Qua đời Aït-ta-xét-xe, thì Bít-lam, Mít-rê-đát, Ta-bê-ên, và đồng liêu của chúng, viết biểu tấu lên Aït-ta-xét-xe, vua Phe-rơ-sơ. Cái biểu ấy viết bằng chữ A-ram và dịch ra tiếng A-ram.
7За часів Артаксеркса писали Бишлам, Митридат, Табим й инчі їх товариші до Артаксеркса, царя Перського. А листи були писані Сирийськими буквами й Сирийською мовою.
8Lại Rê-hum, tể tướng, và Sim-sai, thơ ký, đồng viết biểu nghịch cùng Giê-ru-sa-lem, tấu lên vua Aït-ta-xét-xe như vầy:
8Рехум, радник, та Шимшай, писар, писали один лист проти Ерусалиму до царя Артаксеркса такий:
9Rê-hum, tể tướng, Sim-sai, thơ ký và các đồng liêu của họ, tức là người Đi-nít, người A-phạt-sa-thít, người Tạt-bê-lít, người A-phạt-sít, người Aït-kê-vít, người Ba-by-lôn, người Su-san, người Đê-ha-vít, người Ê-lam,
9Радник Рехум і писар Шимшай, та инчі їх товариші, — Динеї та Афарсатхеї, Тарпелеї, Апарси, Арехяни, Вавилонцї, Сусанцї, Даги, Еламитцї,
10và dân sự khác mà Ô-náp-ba cao trọng và vang hiển đã đem qua, khiến ở trong thành Sa-ma-ri và trong các miền khác bên phía nầy sông.
10Та инчі народи, що їх попереселяв Аснафар (Сеннахирим), великий та славний, і осадив в Самарийських містах і по инчих містах за рікою, й инче таке.
11Nầy là bản sao lại của bức biểu chúng gởi tấu vua Aït-ta-xét-xe. Các tôi tớ vua ở bên phía nầy sông, kính tấu vua Aït-ta-xét-xe.
11А оце випис з листу, що послали до його: Цареві Артаксерксові — слуги твої, люде, що живуть за рікою, бажають здоровля;
12Tâu vua hay rõ ràng những người Giu-đa đã từ nơi vua lên đến chúng tôi tại Giê-ru-sa-lem, đang lập lại thành phản nghịch hung ác ấy; chúng nó đã xây lại vách thành và tu bổ các nền cho xong rồi.
12Нехай буде відомо цареві, що Юдеї, котрі вийшли від тебе, прийшли до нас в Ерусалим, будують се непокірливе та недобре місто, й мури виводять і підвалини їх вже полагодили.
13Vậy, nguyện vua biết rõ ràng ví bằng thành nầy được cất lại, và vách tường nó được xây lên, tất dân nó sẽ chẳng tiến cống, nộp thuế, hoặc đóng tiền mãi lộ, rồi sau chắc sẽ gây họa cho vua.
13Нехай же буде відомо цареві, що, як се місто буде збудоване й мури будуть поновлені, то вони не будуть давати нї податків, нї чиншу, нї граничної оплати, і нанесуть царському скарбові шкоду.
14Vả, vì chúng tôi ăn muối của đền vua, và chẳng nỡ chứng kiến việc gây thiệt hại cho vua như vậy, nên chúng tôi sai sứ giả đến tâu rõ cùng vua,
14Коли ж ми їмо сіль від царського двору, й не можемо дивитись на шкоду цареві, то й посилаємо доносини до царя.
15đặng người ta tra khảo trong sử ký các tổ phụ vua: tất sẽ tìm thấy trong sách sử ký đó và biết rằng cái thành nầy vốn một cái thành phản nghịch, gây thiệt hại cho các vua và nước; từ thuở xưa, người ta hay làm loạn ở đó; bởi cớ ấy thành nầy đã bị phá hoang.
15Нехай пошукають в лїтописній книзї батьків твоїх, а знайдеш в тій лїтописї, й довідаєшся, що се місто — місто бурливе й шкідливе для царів та країв, і що воно одпадало з давнїх-давен, за що се місто й спустошено.
16Chúng tôi tâu cáo vua hay rằng nếu thành nầy được cất lại, và vách tường nó được xây lên, tất tại cớ ấy, đất ở phía bên nầy sông sẽ chẳng còn phục vua nữa.
16Через се ми сповіщаємо цареві, що коли се місто буде добудоване й мури його докінчені, то після того не буде в тебе держави за рікою.
17Vua bèn giáng chiếu cho tể tướng Rê-hum, cho thơ ký Sim-sai, và cho các đồng liêu của họ ở tại Sa-ma-ri và ở trong các miền khác phía bên nầy sông, mà rằng: Nguyện các ngươi bình yên.
17Царь послав відповідь радникові Рехумові й писареві Шимшаєві, й инчим їх товаришам, що жили в Самариї та по инших містах на заріччі: „Мир‟ й таке инче.
18Bức biểu các ngươi dâng tấu lên ta đã đọc ra tỏ tường trước mặt ta.
18Листи, що ви прислали до мене, виразно прочитано передо мною;
19Cứ theo mạng lịnh ta, người ta đã tra khảo, thấy rằng từ đời xưa cái thành nầy có dấy loạn với các vua, và trong nó hằng có sự phản nghịch và việc ngụy đảng.
19А від мене дано приказ, — і шукали, й знайшли, що се місто з давнїх-давен піднімалось на царів, і бували в йому ворохобнечі та повстання,
20Lại tại Giê-ru-sa-lem đã có những vua rất quyền thế, quản hạt cả xứ ở bên kia sông, và người ta tiến cống, nộp thuế, và đóng tiền mãi lộ cho các vua đó.
20І що в Ерусалимі були царі могучі й володїючі над усїм заріччєм, і давано їм податки, чинш й гряничну оплату.
21Vì vậy, các ngươi hãy truyền lịnh ngăn cản những người đó cất lại cái thành nầy, cho đến chừng ta ban chiếu chỉ về việc đó.
21Тим то дайте приказ, щоб сї люде перестали робити, та щоб се місто не будувалось, доки від мене буде даний приказ.
22Khá cẩn thận về sự nầy, e các vua bị thiệt hại thêm chăng.
22І будьте обережні, щоб не зробити в сьому якого недогляду. Навіщо попускати, щоб збільшувалось зло на шкоду царям?
23Vừa khi đã đọc chiếu của vua Aït-ta-xét-xe trước mặt Rê-hum, thơ ký, Sim-sai và các đồng liêu họ, thì chúng đồng lật đật đi đến dân Giu-đa tại Giê-ru-sa-lem, lấy năng lực và cường quyền khiến họ ngưng công việc.
23Як тільки сей лист від царя Артаксеркса прочитали перед Рехумом та писарем Шимшаєм й їх товаришами, пійшли вони, не гаючись, в Ерусалим до Юдеїв, і спинили сильною узброєною рукою їх роботу.
24Vậy, công việc xây cất nhà của Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem đình cho đến năm thứ hai đời Đa-ri-út, vua Phe-rơ-sơ trị vì.
24Тодї спинилась робота при домі Божому, що в Ерусалимі, і сей спин тягся до другого року царювання Дарія, царя Перського.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.