Đa 4
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Kulish and Puluj Bible (1905)
1Vua Nê-bu-cát-nết-sa truyền cho hết thảy các dân, các nước, các thứ tiếng, ở trên khắp đất, rằng: Nguyền cho sự bình an các ngươi được thêm lên!
1Я, Навуходонозор, проживав спокійно в мойму домі та мав гаразд в моїх палатах.
2Ta lấy làm tốt lành mà rao cho các ngươi những dấu lạ và sự lạ mà Đức Chúa Trời Rất Cao đã làm ra đối với ta.
2Та приснився менї сон, що налякав мене, й думки на ліжку мойму та мрії в голові моїй навели на мене смуток.
3Oâi! Những dấu lạ của Ngài lớn lao là dường nào! những sự lạ của Ngài mạnh sức là dường nào! nước Ngài là nước còn mãi mãi, và quyền thế Ngài từ đời nọ đến đời kia.
3І дав я приказ привести до мене всїх мудрецїв Вавилонських, щоб сказали менї, проти чого той сон.
4Ta, Nê-bu-cát-nết-sa, ở yên lặng trong cung ta, và thạnh vượng trong đền ta.
4От і прийшли віщуни, чародїї, Халдеї та ворожбити; я оповів їм сон, але вони не могли виложити менї, проти чого він.
5Ta thấy một điềm chiêm bao làm cho ta sợ sệt; những ý tưởng của ta ở trên giường, và những sự hiện thấy của đầu ta làm cho ta bối rối.
5Вкінцї ввійшов до мене Даниїл, котрому дано імя Валтасар — по імени Бога мого, а в котрому дух сьвятого Бога; йому оповів я сон.
6Vậy ta truyền chiếu chỉ, đem hết thảy những bác sĩ của Ba-by-lôn đến trước mặt ta, hầu cho họ giải nghĩa điềm chiêm bao cho ta.
6Валтасаре, голово над мудрецями! я знаю, що в тебе дух сьвятого Бога, й нїяка тайна тобі не тяжка; відкрий же менї видиво мого сну, що менї снився, і проти чого він.
7Bấy giờ, những đồng bóng, thuật sĩ, người Canh-đê và thầy bói đều đến, ta kể điềm chiêm bao trước mặt họ, nhưng họ không giải nghĩa cho ta.
7А видива голови моєї в ліжку мойму були такі: Я бачив — от посеред землї дерево дуже високе.
8Sau hết, có Đa-ni-ên, gọi là Bên-tơ-xát-sa theo tên thần của ta, người được linh của các thần thánh cảm động, thì đến ra mắt ta. Ta kể chiêm bao ta cho người mà rằng:
8Здорове було те дерево й міцне, а вершина його досягала до неба, й було його видко до країв усієї землї.
9Hỡi Bên-tơ-xát-sa, người làm đầu các thuật sĩ, bởi ta biết rằng linh của các thần thánh ở trong ngươi, và không có một điều kín nhiệm nào là khó cho ngươi, vậy hãy bảo cho ta những sự hiện thấy trong chiêm bao ta đã thấy, và hãy giải nghĩa.
9Лист на ньому прегарний, і овощів на ньому рясно, а поживи на ньому стало б усїм; під ним знаходили холод польові зьвірі, на гіллю його гнїздились піднебесні птицї, і з нього живилось усяке тїло.
10Nầy là những sự hiện thấy đã tỏ ra trong đầu ta khi ta nằm trên giường: Ta nhìn xem, và nầy, ở giữa đất có một cây cao lạ thường.
10І бачив я в видивах моєї голови на мойму ліжку — аж се зійшов із неба Невсипущий і Сьвятий (ангел).
11Cây đó lớn lên và trở nên cứng mạnh; ngọn nó chấm đến trời, và ở nơi cuối cùng khắp đất đều xem thấy nó.
11І кликнув він голосно й промовив: Зрубайте се дерево, пообрубуйте його гіллє, обтрусїть листє з нього й пороскидайте овощі його; нехай повтїкають зьвірі зпід нього й птицї з його гілля;
12Lá nó thì đẹp và trái thì sai, có đủ cho mọi loài ăn; các thú đồng núp dưới bóng nó; chim trời ở trên nhành nó, và mọi loài xác thịt nhờ nó mà nuôi mình.
12Але головнього його кореня полишіть в землї; він же нехай в залїзних та мідяних ланцюгах в траві на полі зрошується небесною росою, і нехай буде з животинами пай його в траві земній.
13Ta nhìn xem những sự hiện thấy trong đầu ta, khi ta nằm trên giường, và nầy, có một đấng thánh canh giữ từ trên trời xuống,
13Людське серце возьметься в нього, а дано йому буде серце зьвіряче, доки не мине над ним сїм часів (років).
14Người kêu lớn tiếng và nói rằng: Hãy đốn cây và chặt nhành nó; hãy làm rụng lá và vãi trái nó ra; hãy cho thú vật tránh khỏi dưới nó, và chim chóc khỏi nhành nó!
14На радї Невсипущих так постановлено, й присудом сьвятих призначено, щоб знали всї живущі, що Найвисший царює над царством людським і дає його, кому хоче, та настановляє над ним і приниженого між людьми.
15Dầu vậy, hãy để lại gốc của rễ nó trong đất, mà cột nó bằng một dây xích sắt và đồng, nơi giữa cỏ xanh trong đồng ruộng; cho nó bị sương trên trời thấm ướt; và cho người cùng các loài thú chia phần cỏ dưới đất!
15От такий сон снився менї, цареві Навуходонозорові; а ти, Валтасаре, скажи, проти чого він, бо нї один із мудрецїв у мойму царстві не міг обявити його значіння, а ти можеш, бо дух сьвятого Бога при тобі.
16Cho lòng người bị đổi đi, và người được ban cho lòng thú; và trải qua bảy kỳ trên người.
16Тодї Даниїл, на инше імя Валтасар, трохи не годину перебував ув осторопінню, й думки його трівожили його; аж царь почав ізнов говорити й промовив: Валтасаре! нехай не трівожить тебе сей сон і його значіннє. Валтасар відповів і сказав: Мій добродїю! нехай би твоїм супротивникам сей сон, і ворогам твоїм значіннє його!
17Aùn đó là bởi các đấng canh giữ đã định, và lời các thánh đã truyền, hầu cho những kẻ sống biết rằng Đấng Rất Cao cai trị trong nước của loài người; Ngài muốn ban cho ai tùy ý, và lập kẻ rất hèn hạ trong loài người lên đó.
17Дерево, котре ти бачив, що було здорове й міцне, своєю вершиною досягало до неба й його було видко на всю землю,
18Ta đây và vua Nê-bu-cát-nết-sa, đã thấy điềm chiêm bao ấy. Vậy, hỡi Bên-tơ-xát-sa, ngươi hãy giải nghĩa cho ta, vì hết thảy bác sĩ trong nước ta không có thể giải nghĩa cho ta được; nhưng ngươi giải được, vì linh của các thần thánh ở trong ngươi.
18На котрому лист був прегарний і овощів рясно й поживи з нього стало б усїм, під котрим жили польові зьвірі, а на гіллю його гнїздились птицї піднебесні,
19Bấy giờ Đa-ni-ên, gọi tên là Bên-tơ-xát-sa, bị câm trong giây lâu, và những ý tưởng làm cho người bối rối. Vua lại cất tiếng nói rằng: Hỡi Bên-tơ-xát-sa, đừng cho điềm chiêm bao và sự giải nghĩa làm rối ngươi. Bên-tơ-xát-sa nói rằng: Thưa chúa, nguyền cho điềm chiêm bao đến cho những kẻ ghét chúa và sự giải nghĩa cho kẻ thù nghịch chúa!
19Се — ти, царю, що єси великий і кріпкий, а сила твоя змоглася велико й сягонула в небо, власть же твоя — до країв сьвіта.
20Cây mà vua đã thấy, trở nên lớn và mạnh ngọn chấm đến trời, và khắp đất đều xem thấy,
20А що ти, царю, бачив Невсипучого й Сьвятого, що зійшов із небес і промовив: Зрубайте дерево й поторощіть його, тільки корінь його полишіть у землї, і нехай він у залїзних та мідяних ланцюгах в траві на полї зрошується небесною росою, і нехай буде з животинами пай його на землї, доки не мине над ним сїм часів, —
21lá thì đẹp và trái thì sai, có đủ cho mọi loài ăn, các thú đồng ở dưới bóng nó, các loài chim trời làm ổ trên nhành nó,
21То от проти чого се, царю, й от присуд Всевишнього, який прийде на мого добродїя, царя:
22hỡi vua, ấy là chính mình vua, vua đã trở nên lớn và mạnh, sự cao cả của vua tăng thêm và thấu đến trời, quyền thế vua đến đầu cùng đất.
22Тебе вилучать ізміж людей, і ти жити меш на полі з зьвірями; годувати мешся травою, неначе віл, падати ме роса з неба на тебе, і сїм часів промине над тобою, доки спізнаєш, що Найвисший царює над людським царством і дає його, кому хоче.
23Song đến điều vua thấy một đấng thánh canh giữ từ trời mà xuống, và nói rằng: Hãy đốn cây và hủy phá đi; song, hãy để lại gốc của rễ nó trong đất, rồi hãy buộc nó bằng một dây xích sắt và đồng ở giữa đám cỏ xanh trong đồng ruộng, cho nó bị nhuần thấm bởi sương móc trên trời; và cho người có phần với các thú đồng, cho đến khi đã trải qua trên người bảy kỳ.
23А що приказано було полишити головний корінь дерева, то се значить, що твоє царство зістанеться при тобі, коли ти спізнаєш власть небесну.
24Hỡi vua, nầy là lời giải, và nầy là mạng định của Đấng Rất Cao, đã đến trên vua, chúa tôi:
24Тим же то, царю, нехай буде до вподоби тобі моя порада: спокутуй твої гріхи справедливостю і проступки твої милосердєм до бідних; от чим може продовжитись спокій твій!
25Người ta sẽ đuổi vua ra khỏi giữa loài người, và chỗ ở vua sẽ ở giữa những thú vật trong đồng. Vua sẽ bị buộc phải ăn cỏ như bò, và sẽ được thấm nhuần sương móc trên trời; bảy kỳ sẽ trải qua trên vua, cho đến khi vua nhận biết rằng Đấng Rất Cao cai trị trong nước loài người, và Ngài muốn ban cho ai tùy ý.
25Усе се сталося з царем Навуходонозором.
26Còn như đã truyền rằng chừa lại gốc của rễ cây đó, tức là khi nào vua đã nhận biết các từng trời cầm quyền, thì nước vua chắc sẽ thuộc về vua.
26Через дванайцять місяцїв, походжаючи по царських горницях в Вавилонї,
27Vậy nên, hỡi vua, xin hãy nghe lời tôi khuyên vua: hãy lấy sự công bình mà chuộc tội lỗi, hãy thương xót những kẻ nghèo khó để chuộc những điều gian ác mình. Như vậy sự bình an vua còn có thể lâu dài hơn nữa.
27Промовив царь: Чи ж не великий сей Вавилон, що я встроїв його на дім царства силою моєї потуги й на славу величностї моєї?
28Hết thảy những sự đó đều đến cho vua Nê-bu-cát-nết-sa.
28Та ще слова не вийшли з уст царських, як надійшов із неба голос: До тебе, царю Навуходонозоре, мовиться: царство відійшло від тебе!
29Khi khỏi mười hai tháng, vua đi dạo trong hoàng cung Ba-by-lôn,
29І відлучать тебе від людей, і ти жити меш на полі з зьвірями; годувати мешся травою, як віл, і сїм часів промине над тобою, доки спізнаєш, що Найвисший царює над людським царством і дає його, кому хоче!
30thì cất tiếng mà nói rằng: Đây chẳng phải là Ba-by-lôn lớn mà ta đã dựng, bởi quyền cao cả ta, để làm đế đô ta, và làm sự vinh hiển oai nghi của ta sao?
30Зараз і справдилось се слово над Навуходонозором, і відлучено його від людей, він їв траву, неначе віл, і спадала роса з неба на його тїло, так що волоссє на ньому поросло, нїби на левові; а нігтї в його — наче в птицї.
31Lời chưa ra khỏi miệng vua, thì có tiếng từ trên trời xuống rằng: Hỡi vua Nê-bu-cát-nết-sa, đã báo cho ngươi biết rằng: Ngôi nước đã lìa khỏi ngươi.
31Як же минули ті часи, я, Навуходонозор, підвів очі мої до неба, й мій розум вернувся до мене; й благословив я Всевишнього, хвалив і прославляв Всесущого, которого власть — власть вічна і которого царство — від родів до родів.
32Ngươi sẽ bị đuổi khỏi giữa loài người, sẽ ở với thú đồng; sẽ bị buộc phải ăn cỏ như bò, rồi bảy kỳ sẽ trải qua trên ngươi, cho đến khi ngươi nhận biết rằng Đấng Rất Cao cai trị trong nước của loài người, và Ngài muốn ban cho ai tùy ý.
32Проти него всї, що живуть на землї, не значать нїчого; по своїй волї робить він як з небесним воінством, так і з тими, що живуть на землї, й нїхто не може стати проти руки його й сказати йому: Що ти зробив?
33Trong chính giờ đó, lời nói ấy đã ứng nghiệm cho vua Nê-bu-cát-nết-sa, vua bị đuổi khỏi giữa loài người; ăn cỏ như bò; thân thể vua phải thấm nhuần sương móc trên trời, cho đến tóc vua cũng mọc như lông chim ưng, móng vua thì giống như móng loài chim chóc.
33В той час вернувся менї розум мій, а на славу мого царства вернулись постава й переднїйший вид мій; тодї шукали мене мої радники й мої дуки, й привернено мене на моє царство, й величність моя ще більше підвисшилась.
34Đến cuối cùng những ngày đó, ta đây, Nê-bu-cát-nết-sa, ngước mắt lên trời, trí khôn đã phục lại cho ta, và ta xưng tạ Đấng Rất Cao. Ta bèn ngợi khen và làm sáng danh Đấng sống đời đời, uy quyền Ngài là uy quyền còn mãi mãi, nước Ngài từ đời nọ đến đời kia.
34А тепер я, Навуходонозор, славлю, й вивисшую й величаю Царя небесного, которого всї дїла праведні, стежки правдиві, й котрий має силу присмирити тих, що ведуться гордовито.
35Hết thảy dân cư trên đất thảy đều cầm như là không có; Ngài làm theo ý mình trong cơ binh trên trời, và ở giữa cư dân trên đất; chẳng ai có thể cản tay Ngài và hỏi rằng: Ngài làm chi vậy?
no verse 35 in this text
36Trong lúc đó, trí khôn phục lại cho ta, ta lại được sự vinh hiển của ngôi nước ta, sự oai nghi chói sáng trở lại cho ta; những nghị viên và đại thần ta lại chầu ta. Ta lại được lập lên trên ngôi nước, và sự uy nghi quyền thế ta càng thêm.
no verse 36 in this text
37Bây giờ, ta, Nê-bu-cát-nết-sa, ngợi khen, tôn vinh, và làm cả sáng Vua trên trời; mọi công việc Ngài đều chân thật, các đường lối Ngài đều công bình; và kẻ nào bước đi kiêu ngạo, Ngài có thể hạ nó xuống.
no verse 37 in this text
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.