I Sam 14
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Freedom Bible (Thai)
1Một ngày kia, Giô-na-than, con trai của Sau-lơ, nói cùng gã trai trẻ vác binh khí mình, mà rằng: Hè, chúng ta hãy đi qua đồn quân Phi-li-tin, đóng ở phía bên kia. Nhưng người chẳng nói cho cha mình hay.
1วันหนึ่งโยนาธานบุตรซาอูลบอกชายหนุ่มผู้ถือเครื่องอาวุธให้ว่า “ไปกันเถอะ ข้ามไปยังกองทหารฟีลิสเตียที่ประจำอยู่อีกฝั่งหนึ่ง” แต่เขาไม่ได้บอกพ่อ
2Bấy giờ, Sau-lơ ở tại đầu ranh Ghi-bê-a, dưới cây lựu của Mi-gơ-rôn, còn đạo quân theo người ước chừng sáu trăm người.
2ซาอูลอยู่ที่ชายขอบกิเบอาห์ใต้ต้นทับทิมที่มิกรอน มีคนอยู่กับเขาราวหกร้อยคน
3A-hi-gia, con trai A-hi-túp, anh của Y-ca-bốt, con trai Phi-nê-a, cháu Hê-li, mặc áo ê-phót, làm thầy tế lễ tại Si-lô. Dân sự không biết Giô-na-than đi.
3ในจำนวนนั้นมีอาหิยาห์ ผู้สวมเอโฟด เขาเป็นบุตรของอาหิทูบผู้เป็นพี่น้องกับอีคาโบด อาหิทูบเป็นบุตรของฟีเนหัส หลานของเอลีปุโรหิตของพระยาห์เวห์ที่ชิโลห์ ประชาชนไม่รู้ว่าโยนาธานไปแล้ว
4ỳ giữa đèo mà Giô-na-than gắng sức đi đặng đến đồn Phi-li-tin, có một răng đá ở bên nầy, và một răng ở bên kia; cái nầy gọi là Bốt-sết, còn cái kia gọi là Sê-nê.
4สองข้างช่องเขาที่โยนาธานตั้งใจใช้ข้ามไปหากองทหารฟีลิสเตียมีหน้าผาหินข้างละแห่ง แห่งหนึ่งชื่อโบเซส อีกแห่งชื่อเสเนห์
5Một cái răng đá mọc lên về phía bắc, đối ngang Mích-ma, còn cái kia ở tại phía nam, đối ngang Ghê-ba.
5หน้าผาด้านหนึ่งอยู่ทางเหนือหันหน้าหามิคมาช อีกด้านอยู่ทางใต้หันหน้าหาเกบา
6Giô-na-than nói cùng kẻ vác binh khí mình rằng: Hè, chúng ta hãy hãm đồn của những kẻ chẳng chịu cắt bì kia. Hoặc giả Đức Giê-hô-va sẽ hành sự vì chúng ta chăng; vì Đức Giê-hô-va khiến cho số ít người được thắng cũng như số đông người vậy.
6โยนาธานบอกผู้ถือเครื่องอาวุธว่า “ข้ามไปหากองทหารของพวกที่ไม่ได้เข้าสุหนัตกันเถอะ บางทีพระยาห์เวห์อาจทรงช่วยเรา เพราะพระยาห์เวห์ทรงช่วยให้รอดได้ ไม่ว่าจะใช้คนมากหรือคนน้อย”
7Kẻ vác binh khí của người thưa rằng: Hãy làm điều ông ước, và đi nơi nào ông muốn; lòng ông dẫn ông đi đâu, tôi sẽ theo đó.
7ผู้ถือเครื่องอาวุธตอบว่า “ทำตามที่ท่านตั้งใจเถอะ ไปเถอะ ผมพร้อมไปกับท่าน”
8Giô-na-than tiếp: Nầy, chúng ta hãy đi đến những người ấy, tỏ mình ra cho chúng nó.
8โยนาธานกล่าวว่า “เราจะข้ามไปให้พวกเขาเห็นตัว
9Nếu chúng nó nói: Hãy đợi chúng ta đến cùng các ngươi, thì chúng ta sẽ đứng lại chỗ mình và không lên đến cùng chúng nó.
9ถ้าพวกเขาบอกว่า ‘รออยู่นั่นจนกว่าเราจะไปหา’ เราก็จะยืนอยู่ที่เดิม ไม่ขึ้นไป
10Còn nếu chúng nó nói rằng: Hãy lên đến chúng ta; thì chúng ta sẽ lên; vì Đức Giê-hô-va đã phó chúng nó vào tay chúng ta: điều đó sẽ dùng làm dấu hiệu cho chúng ta.
10แต่ถ้าพวกเขาบอกว่า ‘ขึ้นมาหาเรา’ เราจะขึ้นไป เพราะนั่นเป็นหมายสำคัญว่าพระยาห์เวห์ทรงมอบพวกเขาไว้ในมือเราแล้ว”
11Vậy hai người đều đi lên đồn Phi-li-tin. Dân Phi-li-tin nói: Kìa, những người Hê-bơ-rơ ra từ hang đá là nơi chúng nó ẩn trốn kia.
11ทั้งสองจึงเผยตัวต่อกองทหารฟีลิสเตีย ชาวฟีลิสเตียพูดว่า “ดูสิ ชาวฮีบรูออกมาจากหลุมที่ซ่อนตัวแล้ว!”
12Lính của đồn nói cùng Giô-na-than và kẻ vác binh khí mà rằng: Hãy đi đến chúng ta, chúng ta có chuyện tỏ cùng hai ngươi. Giô-na-than nói với kẻ vác binh khí mình rằng: Hãy theo ta, vì Đức Giê-hô-va đã phó chúng nó vào tay Y-sơ-ra-ên.
12ทหารกองนั้นตะโกนบอกโยนาธานกับผู้ถือเครื่องอาวุธว่า “ขึ้นมาหาเราสิ แล้วเราจะให้พวกเจ้าดูอะไรบางอย่าง!” โยนาธานบอกผู้ถือเครื่องอาวุธว่า “ตามฉันขึ้นมา พระยาห์เวห์ทรงมอบพวกเขาไว้ในมืออิสราเอลแล้ว”
13Giô-na-than dùng tay và chân leo lên, và kẻ cầm binh khí leo theo. Người Phi-li-tin ngã trước mặt Giô-na-than, và kẻ vác binh khí giết chúng nó chết ở đằng sau người.
13โยนาธานใช้มือกับเท้าปีนขึ้นไป ผู้ถือเครื่องอาวุธตามไป ศัตรูล้มลงต่อหน้าโยนาธาน แล้วผู้ถือเครื่องอาวุธก็ฆ่าพวกเขาตามหลัง
14Trong trận thứ nhất nầy, Giô-na-than và kẻ vác binh khí người giết chừng hai mươi người, trong một khoảng nửa công đất.
14การโจมตีครั้งแรกของโยนาธานกับผู้ถือเครื่องอาวุธทำให้ตายราวยี่สิบคน ในบริเวณพื้นที่ขนาดประมาณครึ่งร่องไถของทุ่งหนึ่งเอเคอร์
15Sự hãi hùng tràn ra trong trại quân, trong đồng, và trong cả dân Phi-li-tin. Quân đồn và đảng cướp giựt đều bị kinh khủng; đất bị rúng động; ấy như một sự kinh khiếp của Đức Chúa Trời vậy.
15คนทั้งค่ายและในทุ่งต่างตัวสั่นด้วยความกลัว ทั้งกองทหารประจำการและกองปล้นสะดมก็กลัว แผ่นดินยังสั่นสะเทือน เกิดความตื่นตระหนกอย่างยิ่ง
16Lính canh của Sau-lơ ở tại Ghi-bê-a trong xứ Bên-gia-min, đều thấy quân chúng Phi-li-tin tản lạc và chạy trốn lộn xộn.
16คนเฝ้ายามของซาอูลที่กิเบอาห์ในเบนยามินมองไป เห็นกองทัพฟีลิสเตียแตกกระจัดกระจาย
17Bấy giờ, Sau-lơ nói với quân lính ở cùng mình rằng: Hãy kiểm điểm xem ai là những người đã bỏ hàng ngũ chúng ta. Chúng kiểm điểm, thấy thiếu Giô-na-than và kẻ vác binh khí người.
17ซาอูลบอกคนที่อยู่ด้วยว่า “นับดูว่าใครหายไป” เมื่อนับแล้วก็พบว่าโยนาธานกับผู้ถือเครื่องอาวุธไม่อยู่
18Sau-lơ nói cùng A-hi-gia rằng: Hãy đem hòm của Đức Chúa Trời đến gần (vì trong ngày đó hòm của Đức Chúa Trời ở cùng dân Y-sơ-ra-ên).
18ซาอูลบอกอาหิยาห์ว่า “นำหีบของพระเจ้ามาที่นี่” เพราะเวลานั้นหีบของพระเจ้าอยู่กับชาวอิสราเอล
19Nhưng trong khi Sau-lơ nói với thầy tế lễ, thì tiếng ồn ào lại càng thêm lên trong trại quân Phi-li-tin. Sau-lơ nói cùng thầy tế lễ rằng: Hãy rút tay ngươi lại.
19ขณะซาอูลกำลังพูดกับปุโรหิต เสียงอึกทึกในค่ายฟีลิสเตียก็ดังขึ้นเรื่อย ๆ ซาอูลจึงบอกปุโรหิตว่า “ชักมือกลับเถอะ!”
20Đoạn, Sau-lơ và hết thảy quân lính ở cùng người hiệp lại, đi tới chốn chiến trường, kìa thấy người Phi-li-tin rút gươm giết lẫn nhau, hỗn loạn cực điểm.
20ซาอูลกับคนที่อยู่ด้วยรวมตัวกันแล้วเข้าสู่สนามรบ เห็นชาวฟีลิสเตียใช้ดาบฟันกันเองท่ามกลางความโกลาหล
21Những người Hê-bơ-rơ đã từ lâu phục dân Phi-li-tin và theo họ trong trại quân, nay trở lòng hiệp với Y-sơ-ra-ên vẫn theo cùng Sau-lơ và Giô-na-than.
21ชาวฮีบรูที่ก่อนหน้านี้อยู่กับชาวฟีลิสเตียและติดตามพวกเขาเข้าค่ายจากรอบด้าน ก็เปลี่ยนมาเข้ากับชาวอิสราเอลที่อยู่กับซาอูลและโยนาธาน
22Lại khi hết thảy người Y-sơ-ra-ên đang ẩn trong núi Eùp-ra-im, nghe dân Phi-li-tin chạy trốn, cũng rượt đuổi theo chúng nó mà đánh giặc.
22ชายอิสราเอลทั้งหมดที่ซ่อนตัวในเขตภูเขาเอฟราอิมก็ได้ยินว่าชาวฟีลิสเตียหนี จึงออกมาไล่ตามอย่างกระชั้นชิดในการรบ
23Đức Giê-hô-va giải cứu Y-sơ-ra-ên trong ngày đó; cơn giặc tràn đến Bết-A-ven.
23วันนั้นพระยาห์เวห์ทรงช่วยอิสราเอล และการรบลามเลยเบธอาเวนไป
24Cũng trong ngày đó, dân Y-sơ-ra-ên bị mệt đuối. Vả lại, Sau-lơ có thề cùng dân sự rằng: Đáng rủa sả người nào sẽ ăn vật thực gì trước khi chiều tối, tức trước khi ta báo thù những kẻ cừu địch ta! Vì vậy, cả dân sự đều cử không ăn vật thực gì hết.
24วันนั้นทหารอิสราเอลลำบากมาก เพราะซาอูลให้ประชาชนอยู่ใต้คำสาบานว่า “ใครกินอาหารก่อนค่ำขอให้ถูกสาป ฉันจะต้องแก้แค้นศัตรูให้ได้ก่อน” จึงไม่มีใครกินอะไรเลย
25Song chúng dân đã đến trong một cái rừng có mật ong trên mặt đất.
25ทุกคนเข้าไปในป่า ที่นั่นมีน้ำผึ้งอยู่ตามพื้น
26Bấy giờ, dân sự đi vào trong rừng, thấy mật nầy chảy; chẳng ai dám chấm tay vào miệng, vì sợ lời thề.
26เมื่อเข้าไป พวกเขาเห็นน้ำผึ้งหยดอยู่ แต่ไม่มีใครแตะกิน เพราะกลัวคำสาบาน
27Nhưng Giô-na-than không biết lời thề mà cha mình đã lập cùng dân sự, nên giơ đầu gậy mình cầm nơi tay chấm vào tàng mật ong, rồi lấy tay đem mật vào miệng, thì mắt người sáng ra.
27โยนาธานไม่ได้ยินตอนพ่อสั่งให้ประชาชนสาบาน เขาจึงยื่นปลายไม้เท้าไปจุ่มรวงผึ้ง แล้วเอามือแตะปากกิน ดวงตาของเขาก็สดใสขึ้น
28Có người trong dân chúng cất tiếng nói rằng: Cha ông có thề cùng dân chúng rằng: Đáng rủa sả người nào ăn vật thực gì trong ngày nay. Vả, dân sự đều bị mệt đuối.
28ชายคนหนึ่งบอกว่า “พ่อของท่านสั่งประชาชนอย่างเคร่งครัดภายใต้คำสาบานว่า ‘ใครกินอะไรวันนี้ขอให้ถูกสาป’” ประชาชนจึงอ่อนแรง
29Giô-na-than đáp rằng: Cha ta làm rối cho xứ, hãy xem mắt ta đã sáng dường nào, vì cớ nếm chút mật nầy!
29โยนาธานกล่าวว่า “พ่อของฉันทำให้แผ่นดินลำบาก ดูสิ แค่ชิมน้ำผึ้งนิดเดียว ตาฉันก็สว่างขึ้นแล้ว
30è! chớ chi ngày nay dân sự đã ăn vật chiếm được của thù nghịch, thì sự thua bại dân Phi-li-tin đã lớn hơn biết bao!
30ถ้าวันนี้ประชาชนได้กินของที่ยึดจากศัตรูอย่างเต็มที่ จะฆ่าชาวฟีลิสเตียได้มากเพียงใด! แต่ตอนนี้ชาวฟีลิสเตียไม่ได้ถูกสังหารมากนัก”
31Vậy ngày đó, dân Y-sơ-ra-ên đánh bại dân Phi-li-tin từ Mích-ma cho đến A-gia-lôn.
31วันนั้นพวกเขาโจมตีชาวฟีลิสเตียตั้งแต่มิคมาชจนถึงอัยยาโลน ประชาชนอ่อนแรงมาก
32Dân sự bị mệt đuối lắm, bèn xông vào của cướp, bắt chiên, bò, bò con, giết đi trên đất, rồi ăn thịt lộn với huyết.
32จึงกรูกันไปแย่งของที่ยึดได้ นำแกะ วัว และลูกวัวมาฆ่าบนพื้น แล้วกินเนื้อพร้อมเลือด
33Có người đến nói cùng Sau-lơ rằng: Kìa, dân sự phạm tội cùng Đức Giê-hô-va, mà ăn thịt lộn với huyết. Người đáp: Aáy là một sự lỗi đạo! Hãy lập tức lăn một hòn đá lớn đến gần ta.
33มีคนบอกซาอูลว่า “ประชาชนกำลังทำบาปต่อพระยาห์เวห์ด้วยการกินเนื้อพร้อมเลือด” ซาอูลกล่าวว่า “พวกเจ้าทำผิดร้ายแรง กลิ้งหินก้อนใหญ่มาหาฉันเดี๋ยวนี้!”
34Lại tiếp rằng: Hãy đi khắp cơ binh rao rằng mỗi người phải dẫn đến ta chiên và bò mình, và giết đi tại đây. Rồi các ngươi sẽ ăn thịt nó; như vậy các người không phạm tội cùng Đức Giê-hô-va mà ăn thịt lộn với huyết. Thế thì, trong đêm đó, mỗi người trong chúng dẫn súc vật mình có dưới tay, và giết nó trên hòn đá.
34แล้วเขาสั่งว่า “ไปบอกประชาชนทุกคนให้เอาวัวและแกะของตนมาฆ่าที่นี่แล้วกิน อย่าทำบาปต่อพระยาห์เวห์ด้วยการกินเนื้อพร้อมเลือด” คืนนั้นทุกคนจึงนำวัวของตนมาฆ่าที่นั่น
35Sau-lơ bèn lập một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va; ấy là bàn thờ thứ nhất mà người lập cho Đức Giê-hô-va.
35ซาอูลสร้างแท่นบูชาแด่พระยาห์เวห์ นี่เป็นแท่นบูชาแห่งแรกที่เขาสร้างแด่พระองค์
36Đoạn, Sau-lơ nói: Chúng ta hãy đi xuống đuổi theo dân Phi-li-tin trong khi ban đêm, cướp phá chúng nó cho đến sáng sớm, và chớ để sống một ai. Chúng thưa rằng: Hãy làm mọi điều vua lấy làm phải. Thầy tế lễ bèn nói: Chúng ta hãy đến gần Đức Chúa Trời.
36ซาอูลกล่าวว่า “คืนนี้ลงไปไล่ตามชาวฟีลิสเตียกัน ยึดของจากพวกเขาจนรุ่งเช้า อย่าให้เหลือสักคน” พวกเขาตอบว่า “ทำตามที่ท่านเห็นว่าดีเถิด” แต่ปุโรหิตกล่าวว่า “เรามาทูลถามพระเจ้ากันก่อน”
37Sau-lơ cầu vấn Đức Chúa Trời rằng: Tôi phải nên xuống đuổi theo dân Phi-li-tin chăng? Ngài sẽ phó chúng nó vào tay Y-sơ-ra-ên chăng? Song lần nầy Đức Chúa Trời chẳng đáp lại lời gì hết.
37ซาอูลทูลถามพระเจ้าว่า “ข้าพเจ้าควรลงไปไล่ตามชาวฟีลิสเตียหรือ? พระองค์จะทรงมอบพวกเขาไว้ในมืออิสราเอลไหม?” แต่วันนั้นพระองค์ไม่ทรงตอบ
38Đoạn, Sau-lơ bảo rằng: Hỡi các quan trưởng của dân sự, hết thảy hãy đến gần đây, xét tìm tội lỗi đã phạm trong ngày nay là sao.
38ซาอูลจึงกล่าวว่า “หัวหน้าประชาชนทั้งหมด จงเข้ามาใกล้ ให้เราสืบรู้ว่าบาปนี้เกิดจากใครในวันนี้
39Ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống, là Đấng giải cứu Y-sơ-ra-ên, mà thề rằng kẻ đã phạm tội, dẫu chính là Giô-na-than, con trai ta, cũng phải chết đi! Trong cả dân sự chẳng có ai đáp lời người.
39พระยาห์เวห์ผู้ทรงช่วยอิสราเอลทรงพระชนม์อยู่แน่ฉันใด แม้ผู้ทำผิดจะเป็นโยนาธานลูกฉัน เขาก็ต้องตายแน่” แต่ไม่มีใครตอบเขา
40Người bèn nói cùng cả Y-sơ-ra-ên rằng: Các ngươi hãy đứng bên này; ta và Giô-na-than, con trai ta, sẽ đứng bên kia. Dân sự thưa rằng: Hãy làm điều vua lấy làm phải.
40เขาบอกชาวอิสราเอลว่า “พวกเจ้าอยู่ฝั่งหนึ่ง ฉันกับโยนาธานลูกฉันจะอยู่อีกฝั่ง” ประชาชนตอบว่า “ทำตามที่ท่านเห็นว่าดีเถิด”
41Sau-lơ thưa cùng Đức Giê-hô-va rằng: Oâi Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! xin hãy tỏ ra sự thật. Giô-na-than và Sau-lơ bị chỉ ra, còn dân sự thì vô can.
41ซาอูลจึงทูลพระยาห์เวห์พระเจ้าแห่งอิสราเอลว่า “โปรดชี้ให้เห็นคำตอบที่ถูกต้อง” ซาอูลกับโยนาธานถูกเลือก ส่วนประชาชนพ้นไป
42Sau-lơ nói: Hãy bắt thăm cho ta và Giô-na-than, con trai ta.
42ซาอูลกล่าวว่า “จับสลากระหว่างฉันกับโยนาธานลูกฉัน” สลากตกแก่โยนาธาน
43Giô-na-than bị chỉ ra. Sau-lơ nói cùng Giô-na-than rằng: Hãy tỏ cho ta biết điều ngươi đã làm. Giô-na-than thú thật rằng: Tôi có dùng đầu gậy tôi cầm nơi tay mà nếm chút mật ong; nầy tôi đây phải chết.
43ซาอูลถามโยนาธานว่า “บอกมาว่าเจ้าทำอะไร” โยนาธานตอบว่า “ผมเอาปลายไม้เท้าจุ่มน้ำผึ้งชิมไปนิดเดียว และนี่ผมต้องตายแล้ว”
44Sau-lơ nói: Hỡi Giô-na-than, nếu ngươi không chết, nguyện Đức Giê-hô-va giáng họa rất nặng trên ta!
44ซาอูลกล่าวว่า “ขอพระเจ้าลงโทษฉันอย่างหนักและหนักยิ่งกว่า โยนาธาน เจ้าต้องตายแน่”
45Nhưng dân sự đáp cùng Sau-lơ rằng: Uûa! Giô-na-than là người đã làm cho Y-sơ-ra-ên được đại thắng dường kia, phải chết sao? Điều đó chẳng nên! Chúng tôi chỉ sanh mạng của Đức Giê-hô-va mà thề rằng một sợi tóc trên đầu người sẽ chẳng rụng xuống đất; vì người ở cùng Đức Chúa Trời mà được thắng ngày nay. Như vậy, dân sự giải cứu Giô-na-than, và người khỏi bị xử tử.
45แต่ประชาชนพูดกับซาอูลว่า “โยนาธานผู้ทำให้อิสราเอลได้รับชัยชนะยิ่งใหญ่นี้จะต้องตายหรือ? ไม่ได้เด็ดขาด! พระยาห์เวห์ทรงพระชนม์อยู่แน่ฉันใด แม้เส้นผมบนศีรษะเขาก็จะไม่ตกถึงพื้น เพราะวันนี้เขาได้ร่วมกับพระเจ้าช่วยอิสราเอล” ประชาชนจึงช่วยโยนาธานไว้ เขาไม่ตาย
46Đoạn, Sau-lơ trở về, chẳng đuổi theo dân Phi-li-tin nữa; và dân Phi-li-tin đều trở về trong xứ mình.
46ซาอูลเลิกไล่ตามชาวฟีลิสเตียและยกกลับขึ้นไป ส่วนพวกเขาก็กลับไปดินแดนของตน
47Sau khi Sau-lơ đã cầm quyền nước Y-sơ-ra-ên, thì người giao chiến cùng kẻ thù nghịch mình tứ phía, tức cùng Mô-áp, Am-môn, Ê-đôm, các vua Xô-ba, và cùng dân Phi-li-tin; hễ người cử binh đến đâu, thì báo thù được đến đó.
47เมื่อซาอูลได้ปกครองอิสราเอลแล้ว เขารบกับศัตรูทุกทิศทาง ทั้งโมอับ ชาวอัมโมน เอโดม กษัตริย์ทั้งหลายแห่งโศบาห์ และชาวฟีลิสเตีย ไม่ว่าหันไปรบทางใด เขาก็ชนะ
48Người tụ tập quân lính, đánh dân A-ma-léc, và giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi tay những kẻ cướp phá họ.
48เขารบอย่างกล้าหาญ โจมตีชาวอามาเลขและช่วยอิสราเอลให้พ้นมือผู้ปล้นสะดม
49Các con trai của Sau-lơ là Giô-na-than, Gi-sê-vi, và Manh-ki-sua, người cũng có hai con gái; lớn, tên là Mê-ráp; nhỏ, tên là Mi-canh;
49ลูกชายของซาอูลคือโยนาธาน อิชวี และมัลคีชูอา ลูกสาวสองคน คนโตชื่อเมรับ คนน้องชื่อมีคาล
50vợ của Sau-lơ tên là A-hi-nô-am, con gái của A-hi-mát. Tổng binh của đạo binh người là Aùp-ne, con trai của Nê-rơ, chú của Sau-lơ,
50ภรรยาของซาอูลชื่ออาหิโนอัม เป็นบุตรสาวของอาหิมาอัส แม่ทัพของเขาชื่ออับเนอร์ เป็นบุตรของเนอร์ผู้เป็นลุงของซาอูล
51Kích, cha của Sau-lơ và Nê-rơ, cha của Aùp-ne, là con trai của A-bi-ên.
51คีชเป็นพ่อของซาอูล ส่วนเนอร์พ่อของอับเนอร์เป็นบุตรของอาบีเอล
52Trọn đời Sau-lơ có sự tranh chiến dữ dội cùng dân Phi-li-tin; hễ khi Sau-lơ thấy người mạnh mẽ và bạo dạn, thì chiêu mộ người theo mình.
52ซาอูลทำสงครามหนักกับชาวฟีลิสเตียตลอดสมัยของเขา เมื่อเห็นชายแข็งแกร่งหรือกล้าหาญคนใด ก็นำเข้ามารับใช้ตน
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.