ผู้วินิจฉัย 7
Freedom Bible (Thai)Translation
Freedom Bible (Thai)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1เยรุบบาอัลคือกิเดโอนกับประชาชนทั้งหมดที่อยู่กับเขาตื่นแต่เช้าและตั้งค่ายข้างตาน้ำฮาโรด ค่ายของชาวมีเดียนอยู่ทางเหนือของพวกเขา ใกล้เนินเขาโมเรห์ในหุบเขา
1Qua ngày sau, Giê-ru-ba-anh, tức là Ghê-đê-ôn, và cả dân sự đồng theo người đều dậy sớm, đi đến đóng trại gần bên suối Ha-rốt. Dinh của Ma-đi-an ở phía bắc về lối nổng Mô-rê, trong trũng.
2พระยาห์เวห์ตรัสกับกิเดโอนว่า “คนที่อยู่กับเจ้ามีมากเกินกว่าที่เราจะมอบชาวมีเดียนให้อยู่ในอำนาจของพวกเขา มิฉะนั้นอิสราเอลจะโอ้อวดต่อเราว่า ‘เราเองช่วยตัวเราให้รอด’
2Đức Giê-hô-va phán cùng Ghê-đê-ôn rằng: Đạo binh đi theo ngươi lấy làm đông quá, ta chẳng phó dân Ma-đi-an vào tay nó đâu, e Y-sơ-ra-ên đối cùng ta tự khoe mà rằng: Tay tôi đã cứu tôi.
3บัดนี้จงประกาศให้ประชาชนได้ยินว่า ‘ใครกลัวและตัวสั่น ให้กลับไปจากภูเขากิเลอาด’” ประชาชนจึงกลับไปสองหมื่นสองพันคน เหลืออยู่หนึ่งหมื่นคน
3Vậy bây giờ, hãy truyền lịnh nầy cho bá tánh nghe: Ai là người sợ hãi run rẩy, khá trở về khỏi núi Ga-la-át! Hai vạn hai ngàn người bèn trở về, còn một vạn người ở lại.
4พระยาห์เวห์ตรัสกับกิเดโอนว่า “ประชาชนยังมีมากเกินไป จงพาพวกเขาลงไปที่น้ำ แล้วเราจะทดสอบพวกเขาให้เจ้าที่นั่น เมื่อเราบอกเจ้าว่า ‘คนนี้จะไปกับเจ้า’ เขาก็จะไป และเมื่อเราบอกว่า ‘คนนี้จะไม่ไปกับเจ้า’ เขาก็จะไม่ไป”
4Đức Giê-hô-va phán cùng Ghê-đê-ôn rằng: Dân hãy còn đông quá, phải biểu chúng xuống nơi mé nước, rồi ta sẽ vì ngươi thử chúng nó tại đó. Hễ kẻ nào ta phán với ngươi rằng: “Nó khá đi với ngươi,” thì nó sẽ đi theo ngươi; còn kẻ nào ta phán cùng ngươi rằng: “Nó chớ đi với ngươi,” thì kẻ đó không đi.
5กิเดโอนจึงพาประชาชนลงไปที่น้ำ พระยาห์เวห์ตรัสกับเขาว่า “ทุกคนที่ใช้ลิ้นเลียน้ำเหมือนสุนัข ให้แยกไว้กลุ่มหนึ่ง และทุกคนที่คุกเข่าลงดื่มน้ำก็ให้แยกไว้อีกกลุ่มหนึ่ง”
5Vậy, người biểu dân sự xuống mé nước; rồi Đức Giê-hô-va phán cùng Ghê-đê-ôn rằng: Phàm kẻ nào dùng lưỡi liếm nước như chó, và kẻ nào quì gối cúi xuống mà uống, thì ngươi phải để riêng ra.
6คนที่ใช้มือวักน้ำขึ้นมาเลียมีสามร้อยคน ส่วนคนที่เหลือทั้งหมดคุกเข่าลงดื่มน้ำ
6Số người bụm nước trong tay rồi kê miệng liếm là ba trăm, còn lại bao nhiêu đều quì gối cúi xuống mà uống.
7พระยาห์เวห์ตรัสกับกิเดโอนว่า “เราจะช่วยเจ้าให้รอดด้วยชายสามร้อยคนที่เลียน้ำ และจะมอบชาวมีเดียนให้อยู่ในอำนาจของเจ้า ให้ประชาชนที่เหลือทุกคนกลับไปยังที่ของตน”
7Bấy giờ, Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Ghê-đê-ôn rằng: Ta sẽ dùng ba trăm người đã liếm nước đó mà giải cứu các ngươi, và ta sẽ phó dân Ma-đi-an vào tay ngươi. Còn dân sự khác, ai nấy đều phải trở về nhà mình!
8คนเหล่านั้นรับเสบียงกับแตรไว้ในมือ กิเดโอนส่งชายอิสราเอลที่เหลือกลับเต็นท์ของตน แต่ให้ชายสามร้อยคนอยู่กับเขา ค่ายมีเดียนอยู่ต่ำกว่าเขาในหุบเขา
8Ghê-đê-ôn cho cả người Y-sơ-ra-ên, ai trở về trại nấy, nhưng giữ lại ba trăm người kia; chúng lấy lương thực và cây kèn trong tay. Vả, dinh Ma-đi-an ở thân dưới người, tại trong trũng.
9คืนนั้นพระยาห์เวห์ตรัสกับเขาว่า “ลุกขึ้น ลงไปยังค่าย เพราะเรามอบค่ายนั้นให้อยู่ในอำนาจของเจ้าแล้ว
9Xảy trong đêm đó, Đức Giê-hô-va phán cùng Ghê-đê-ôn rằng: Hãy chổi dậy, đi xuống hãm dinh Ma-đi-an, vì ta đã phó nó vào tay ngươi.
10แต่ถ้าเจ้ากลัวที่จะลงไป ก็ให้ปูราห์คนรับใช้ของเจ้าลงไปยังค่ายกับเจ้า
10Còn nếu ngươi sợ hãm nó, thì hãy đi xuống đó với Phu-ra, đầy tớ ngươi.
11เจ้าจะได้ยินสิ่งที่พวกเขาพูด หลังจากนั้นเจ้าจะมีกำลังใจกล้าขึ้นที่จะลงไปยังค่าย” เขาจึงลงไปกับปูราห์คนรับใช้ของเขาถึงชายขอบกองทหารที่อยู่ในค่าย
11Người sẽ nghe điều chúng nó nói, rồi ngươi sẽ cảm biết rằng mình cóóóóóómạnh mà hãm dinh chúng nó. Vậy, Ghê-đê-ôn đi xuống cùng Phu-ra, đầy tớ mình, đến gần nơi lính canh ở đầu dinh.
12ชาวมีเดียน ชาวอามาเลข และชนชาวตะวันออกทั้งหมดกระจายอยู่ทั่วหุบเขามากมายราวกับฝูงตั๊กแตน อูฐของพวกเขาก็นับไม่ถ้วน มากมายเหมือนเม็ดทรายริมทะเล
12Vả, dân Ma-đi-an, dân A-ma-léc, và hết thảy người phương Đông bủa ra trong trũng đông như cào cào, còn lạc đà của chúng nó thì vô số, khác nào cát nơi bờ biển.
13เมื่อกิเดโอนมาถึง ก็มีชายคนหนึ่งกำลังเล่าความฝันให้เพื่อนฟัง เขากล่าวว่า “ฟังนะ เราฝันว่า จู่ๆ ขนมปังข้าวบาร์เลย์ก้อนหนึ่งกลิ้งเข้ามาในค่ายมีเดียน กระแทกเต็นท์จนล้มและพลิกคว่ำ เต็นท์จึงแบนราบไปกับพื้น”
13Trong lúc Ghê-đê-ôn đến, có một người thuật điềm chiêm bao cho bạn mình nghe, rằng: Nầy, tôi có một điềm chiêm bao, thấy một cái bánh nhỏ bằng bột lúa mạch lăn vào trại quân Ma-đi-an: nó lăn đến một trại, đụng làm cho trại ngã, lật ngược trên lộn dưới, nên trại bị đánh đổ.
14เพื่อนของเขาตอบว่า “นี่ไม่ใช่อื่นใดนอกจากดาบของกิเดโอนบุตรโยอาช ชายชาวอิสราเอล พระเจ้าทรงมอบมีเดียนกับกองทัพทั้งหมดให้อยู่ในอำนาจของเขาแล้ว”
14Bọn người đáp rằng: Đó nào khác hơn là gươm của Ghê-đê-ôn, con trai Giô-ách, người Y-sơ-ra-ên. Đức Chúa Trời đã phó Ma-đi-an và cả trại quân vào tay người.
15เมื่อกิเดโอนได้ยินเรื่องความฝันและคำแปลความ เขาก็กราบนมัสการ แล้วกลับไปยังค่ายอิสราเอลและกล่าวว่า “ลุกขึ้น เพราะพระยาห์เวห์ทรงมอบกองทัพมีเดียนให้อยู่ในอำนาจของพวกท่านแล้ว!”
15Khi Ghê-đê-ôn nghe lời thuật điềm chiêm bao nầy và sự bàn điềm đó, thì thờ lạy Đức Chúa Trời; rồi trở về trại quân Y-sơ-ra-ên, mà rằng: Hãy chổi dậy, vì Đức Giê-hô-va đã phó trại quân Ma-đi-an vào tay các ngươi!
16เขาแบ่งชายสามร้อยคนออกเป็นสามกอง มอบแตรและเหยือกเปล่าให้ทุกคน โดยใส่คบเพลิงไว้ในเหยือก
16Đoạn, người chia ba trăm người làm ba đội, phát cho mỗi tên những kèn, bình không, và đuốc ở trong bình,
17เขาบอกพวกเขาว่า “จงมองเราและทำตาม เมื่อเราไปถึงชายขอบค่าย เราทำอย่างไร พวกเจ้าก็จงทำอย่างนั้น
17mà dặn rằng: Hãy ngó ta, và làm y như ta làm; khi ta đến đầu trại quân, các ngươi sẽ làm theo điều ta làm.
18เมื่อเราและทุกคนที่อยู่กับเราเป่าแตร พวกเจ้าที่อยู่รอบค่ายก็จงเป่าแตรและตะโกนว่า ‘เพื่อพระยาห์เวห์และเพื่อกิเดโอน!’”
18Khi ta và những kẻ theo ta thổi kèn, thì các ngươi cũng sẽ thổi kèn ở khắp xung quanh trại quân, và reo lên rằng: Vì Đức Giê-hô-va và vì Ghê-đê-ôn!
19กิเดโอนกับชายหนึ่งร้อยคนที่อยู่กับเขามาถึงชายขอบค่ายตอนเริ่มยามกลาง หลังจากเพิ่งผลัดยาม พวกเขาเป่าแตรและทุบเหยือกในมือให้แตก
19Ghê-đê-ôn và một trăm quân theo người đi đến đầu trại quân vào lúc canh ba, hồi mới giao canh. Chúng thổi kèn, và đập bể bình mình cầm nơi tay.
20ทั้งสามกองเป่าแตรและทุบเหยือก พวกเขาถือคบเพลิงด้วยมือซ้าย ถือแตรที่จะเป่าด้วยมือขวา แล้วตะโกนว่า “ดาบของพระยาห์เวห์และของกิเดโอน!”
20Bấy giờ, ba đội quân thổi kèn, và đập bể bình, tay tả cầm đuốc, tay hữu nắm kèn đặng thổi; đoạn cất tiếng reo lên rằng: Gươm của Đức Giê-hô-va và của Ghê-đê-ôn!
21แต่ละคนยืนประจำที่รอบค่าย กองทัพศัตรูทั้งหมดก็วิ่งหนี คนของกิเดโอนร้องตะโกนจนพวกเขาแตกพ่ายไป
21Chúng đứng vây quanh trại quân, ai cứ chỗ nấy; cả trại quân bèn vỡ chạy, cất tiếng la và trốn đi.
22เมื่อแตรทั้งสามร้อยอันดังขึ้น พระยาห์เวห์ทรงทำให้คนในกองทัพใช้ดาบฟันกันเอง กองทัพหนีไปไกลถึงเบธชิททาห์ทางเศเรราห์ และถึงชายแดนอาเบลเมโฮลาห์ใกล้ทับบาท
22Ba trăm người cứ thổi kèn, và khắp trại quân, Đức Giê-hô-va khiến trở gươm của mỗi người chém lẫn bạn mình. Đạo-binh chạy trốn đến Bết-si-ta, về hướng Xê-rê-ra, cho đến bờ cõi A-bên-Mê-hô-la gần Ta-bát.
23ชายอิสราเอลจากนัฟทาลี อาเชอร์ และทั่วมนัสเสห์มารวมตัวกันไล่ตามชาวมีเดียน
23Người Y-sơ-ra-ên, tức những người chi phái Nép-ta-li, A-se và Ma-na-se hiệp lại mà đuổi theo dân Ma-đi-an.
24กิเดโอนส่งผู้ส่งข่าวไปทั่วแถบภูเขาเอฟราอิม บอกว่า “ลงมาสู้กับชาวมีเดียนและยึดแหล่งน้ำดักหน้าพวกเขา ไปจนถึงเบธบาราห์และแม่น้ำจอร์แดน!” ชายชาวเอฟราอิมทั้งหมดจึงมารวมตัวกันและยึดแหล่งน้ำไว้จนถึงเบธบาราห์และแม่น้ำจอร์แดน
24Bấy giờ, Ghê-đê-ôn sai sứ vào khắp núi Eùp-ra-im đặng nói rằng: Hãy xuống đón dân Ma-đi-an, chận đường chúng nó qua sông, cho đến Bết-Ba-ra và các chỗ cạn của Giô-đanh. Vậy, các người Eùp-ra-im hiệp lại, chiếm các bến cho đến Bết-Ba-ra, cùng những chỗ cạn của Giô-đanh.
25พวกเขาจับโอเรบกับเศเอบ ผู้ปกครองสองคนของมีเดียนได้ แล้วฆ่าโอเรบที่โขดหินโอเรบ และฆ่าเศเอบที่บ่อย่ำองุ่นเศเอบ ขณะไล่ตามชาวมีเดียน จากนั้นพวกเขานำศีรษะของโอเรบกับเศเอบไปให้กิเดโอนที่อีกฟากของแม่น้ำจอร์แดน
25Chúng cũng bắt được hai quan trưởng của dân Ma-đi-an, là Ô-rép và Xê-ép; giết Ô-rép tại nơi hòn đá Ô-rép, và Xê-ép tại nơi máy ép rượu Xê-ép. Đoạn, họ đuổi theo dân Ma-đi-an, cùng đem đầu Ô-rép và đầu Xê-ép đến Ghê-đê-ôn ở phía bên kia sông Giô-đanh.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.