Kanawailua 26
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1A IA hiki aku oe ma ka aina a Iehova kou Akua e haawi mai ai nou, a lilo ia nou, a noho iho oe malaila;
1Khi ngươi đã vào trong xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi làm sản nghiệp, khi nhận được và ở tại đó rồi,
2E kii oe i kekahi o na hua mua a pau o ka honua, a o kau ia e lawe no ka aina a Iehova kou Akua i haawi mai ai nou, a e waiho iloko o ka hinai, a e hele aku oe ma kahi a Iehova kou Akua i wae ai e hoopaa i kona inoa malaila.
2thì phải lấy hoa quả đầu mùa của thổ sản mình thâu-hoạch trong xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi, để trong một cái giỏ, rồi đi đến chỗ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ chọn để danh Ngài ở.
3A e hele oe i ke kahuna e noho ana ia mau la, a e i aku ia ia, Ke hooia aku nei au ia Iehova kou Akua i keia la, no ka mea, ua hiki mai nei au ma ka aina a Iehova i hoohiki ai i ko kakou mau kupana e haawi mai no kakou.
3Ngươi sẽ tới cùng thầy tế lễ làm chức đang thì đó, mà nói rằng: Ngày nay, trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ông, tôi nhận biết tôi đã vào trong xứ mà Đức Giê-hô-va đã thề cùng tổ phụ ban cho chúng tôi.
4A e lawe ke kahuna i ka hinai mai kou lima ae, a e waiho ia imua o ke kuahu o Iehova kou Akua.
4Đoạn, thầy tế lễ sẽ lấy cái giỏ khỏi tay ngươi, để trước bàn thờ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi.
5A e hai aku oe me ka olelo aku imua o Iehova kou Akua, He kanaka kuewa kou makuakane no Suria, a iho no ia i Aigupita, a noho mahihini malaila, he poe uuku, a lilo ia malaila i lahuikanaka nui, ikaika, a lehulehu.
5Đoạn, ngươi cất tiếng nói tại trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi rằng: Tổ phụ tôi là người A-ram phiêu lưu, đi xuống xứ Ê-díp-tô kiều ngụ tại đó, số người ít, mà lại trở thành một dân tộc lớn, mạnh và đông.
6A hana ino mai ko Aigupita ia kakou, a hooluhi mai ia kakou, a haawi mai ia kakou i na hana kaumaha loa.
6Người Ê-díp-tô ngược đãi và khắc bức chúng tôi, bắt làm công dịch nhọc nhằn.
7A kahea aku kakou ia Iehova ke Akua o ko kakou mau kupuna, hoolohe mai no o Iehova i ko kakou leo, a nana mai ia i ko kakou luhi, a me ka kakou hana, a me ko kakou kaumaha.
7Bấy giờ, chúng tôi kêu van cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng tôi. Đức Giê-hô-va nghe thấu, thấy sự gian nan lao khổ và sự hà hiếp của chúng tôi,
8A lawe mai o Iehova ia kakou mai Aigupita mai me ka lima ikaika, a me ka lima kakauha, a me ka mea weliweli nui, a me na hoailona, a me na mea kupanaha.
8bèn dùng cánh tay quyền năng giơ thẳng ra và các dấu k”, phép lạ lớn đáng kinh khủng, mà rút chúng tôi khỏi xứ Ê-díp-tô,
9A ua lawe mai hoi oia ia kakou ma keia wahi, a ua haawi ia kakou i keia aina, he aina e kahe ana o ka waiu a me ka meli.
9dẫn chúng tôi vào nơi nầy, và ban xứ nầy cho, tức là xứ đượm sữa và mật.
10Eia hoi, ua lawe mai nei au, e Iehova, i ka hua mua o ka aina au i haawi mai ai ia'u. A e waiho oe ia mea imua o Iehova kou Akua, a e hoomana aku imua o Iehova kou Akua.
10Vậy bây giờ, Đức Giê-hô-va ôi! tôi đem những hoa quả đầu mùa của đất mà Ngài đã ban cho tôi. Đoạn, ngươi sẽ để hoa quả đó trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, và thờ lạy trước mặt Ngài;
11A e olioli oe i na mea maikai a pau a Iehova kou Akua i haawi mai ai ia oe, a me ko ka hale ou, o oe, a me ka Levi, a me ka malihini iwaena ou.
11rồi ngươi, người Lê-vi, và kẻ khách lạ ở giữa ngươi, luôn với nhà của người sẽ vui vẻ về các phước lành mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã ban cho ngươi.
12Aia hoopau oe i ka hookupu ana i ka hapaumi a pau o kau mea i loaa i ke kolu o ka makahiki, oia ka makahiki hookupu i ka hapaumi; a haawi aku i ka Levi a i ka malihini, a i ka mea makua ole, a me ka wahinekanemake, i ai iho ai lakou ma kou mau ipuka a maona;
12Khi ngươi đã thâu xong các thuế một phần mười về huê lợi năm thứ ba, là năm thuế một phần mười, thì phải cấp thuế đó cho người Lê-vi, khách lạ, kẻ mồ côi, và cho người góa bụa, dùng làm lương thực trong các thành ngươi, và những người ấy sẽ ăn no nê;
13Alaila e olelo aku oe imua o Iehova kou Akua, Ua lawe mai nei au i ka mea i hoolaaia mai ko'u hale mai, a ua haawi aku hoi i ka Levi, a i ka malihini, a i ka mea makua ole, a i ka wahinekanemake, e like me kau mau kauoha a pau au i kanoha mai ai ia'u; aole au i hoohala i kau mau kauoha, aole hoi au i hoopoina;
13rồi ngươi sẽ nói tại trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, rằng: Tôi đã đem những vật thánh khỏi nhà tôi và cấp cho người Lê-vi, khách lạ, kẻ mồ côi, cùng người góa bụa, chiếu theo các mạng lịnh mà Ngài đã phán dặn tôi; tôi không phạm, cũng không quên một mạng lịnh nào của Ngài.
14Aole au i ai i kekahi o ia mea i kuu makena ana, aole au i lawe i kekahi o ia mea no ka mea haumia, aole hoi au i haawi i kekahi o ia mea no ka mea i make; ua hoolohe no au i ka leo o Iehova ko'u Akua, a ua hana au e like me na mea a pau au i kauoha mai ai ia'u.
14Trong lúc tang chế, tôi không ăn đến vật thánh nầy; khi bị ô uế, tôi không đụng đến đó, và cũng không vì một người chết mà dùng đến; tôi vâng theo tiếng Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi, và làm y như mọi điều Ngài đã phán dặn tôi.
15E nana mai oe mai kou wahi hoano, mai ka lani mai, a e hoomaikai mai i kou poe kanaka, i ka Iseraela, a me ka aina au i haawi mai ai no makou, e like me au i hoohiki ai i ko makou mau kupuna, he aina e kahe ana o ka waiu a me ka meli.
15Cầu Chúa từ nơi cư-sở thánh của Ngài trên trời cao, đoái xem và ban phước cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, cùng đất mà Ngài đã ban cho chúng tôi, tức là xứ đượm sữa và mật nầy, y như Ngài đã thề cùng tổ phụ chúng tôi.
16I keia la, ua kauoha mai o Iehova kou Akua ia oe e hana ma keia mau kanawai, a me ua olelo kupaa; e malama hoi oe a e hana ma ia mau mea me kou naau a pau, a me kou uhane a pau.
16Ngày nay, Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi dặn biểu ngươi làm theo các luật lệ và mạng lịnh nầy; vậy, phải hết lòng hết ý mà làm theo cách kỷ cang.
17I keia la ua hooia aku oe ia Iehova, i Akua nou, a e hele ma kona mau aoao, a e malama i kona mau kanawai, a i kana mau kauoha, a me kana mau olelo kupaa, a e hoolohe i kona leo.
17Ngày nay, ngươi hứa nhận Giê-hô-va làm Đức Chúa Trời ngươi, đi theo đường lối Ngài, gìn giữ các luật lệ, điều răn và mạng lịnh Ngài, cùng vâng theo tiếng phán của Ngài.
18A ua hooia mai o Iehova ia oe i keia la, he poe kanaka ponoi nona, e like me kana i olelo mai ai ia oe, i malama ai oe i kana mau kauoha a pau:
18Ngày nay, Đức Giê-hô-va đã hứa nhận ngươi làm một dân thuộc riêng về Ngài, y như Ngài đã phán cùng ngươi, và ngươi sẽ gìn giữ hết các điều răn Ngài,
19A e hookiekie mai oia ia oe maluna o na lahuikanaka a pau ana i hana'i, ma ka hoolea ana, a ma ka inoa, a ma ka hoomaikai; a e lilo oe i poe kanaka hemolele no Iehova, e like me kana i olelo mai ai.
19để Ngài ban cho ngươi sự khen ngợi, danh tiếng, và sự tôn trọng trổi hơn mọi dân mà Ngài đã tạo, và ngươi trở nên một dân thánh cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, y như Ngài đã phán vậy.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.