Kanawailua 20
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1A IA hele oe e kaua aku i kou poe enemi, a ike aku i na lio a me na halekaa, a i na kanaka he nui aku i kou, mai makau ia lakou: no ka mea, me oe no o Iehova o kou Akua, nana oe i lawe mai nei mai ka aina o Aigupita mai.
1Khi nào ngươi ra giao chiến cùng thù nghịch mình, nếu thấy ngựa, xe và binh đông hơn mình, thì chớ sợ; vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, là Đấng đã khiến ngươi lên khỏi xứ Ê-díp-tô, ở cùng ngươi.
2A kokoke oukou e hoouka, alaila e hookokoke mai ke kahuna, a e olelo aku i na kanaka,
2Lúc gần khai chiến, thầy tế lễ sẽ bước tới, nói cùng dân sự
3E i aku ia lakou, E hoolohe, e ka Iseraela, Ke hookokoke oukou i keia la e kaua aku i ko oukou poe enemi: mai hoonawaliwaliia ko oukou naau, mai makau, mai pihoihoi, mai weliweli ia lakou:
3mà rằng: Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy nghe! Ngày nay các ngươi đi giao chiến cùng thù nghịch mình, lòng các ngươi chớ nhát, chớ sợ, chớ run rẩy, và chớ kinh khiếp vì chúng nó;
4No ka mea, o Iehova ko oukou Akua, oia ke hele me oukou e kaua aku no oukou i ko oukou poe enemi, a e hoopakele ia oukou.
4bởi Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi là Đấng cùng đi với các ngươi, đặng vì các ngươi đánh kẻ thù nghịch và giải cứu cho.
5Ae olelo aku na luna i na kanaka, i ka i ana'ku, Owai ke kanaka i kukulu i hale hou, aole nae i hoolilo aku? e hele ia a hoi aku i kona hale, o make auanei ia i ke kana, a o ke kanaka e ke hoolilo aku ia.
5Bấy giờ, các quan trưởng sẽ nói cùng dân sự mà rằng: Ai đã cất một nhà mới, mà chưa khánh thành? Hãy đi trở về nhà mình, e chết nơi chiến trận, rồi một người khác sẽ khánh thành chăng.
6Owai la ke kanaka i kana i ka malawaina, aole nae i ohi i ka hua? e hele ia, a hoi aku i kona hale, o make auanei ia i ke kaua, a e ohi ke kanaka e i ka hua.
6Ai đã trồng một vườn nho và chưa hái trái? Hãy đi trở về nhà mình, kẻo chết nơi chiến trận, rồi một người khác sẽ hái trái chăng.
7Owai ke kanaka i hoopalau i ka wahine, aole nae i lawe ia ia? e hele no ia, a hoi aku i kona hale, o make auanei ia i ke kana, a e lawe ke kanaka e ia ia.
7Ai đã làm lễ hỏi một người nữ, mà chưa cưới? Hãy đi trở về nhà mình, e chết nơi chiến trận, rồi người khác sẽ cưới nàng chăng.
8A e olelo hou na luna i na kanaka, a e i aku, Owai la ke kanaka makau a nawaliwali ma ka naau? e hele no ia, a e hoi aku i kona hale, o hee auanei ka naau o kona poe hoahanau e like me kona naau.
8Các quan trưởng sẽ cứ nói tiếp cùng dân sự mà rằng: Ai là người sợ và nhát? Hãy đi trở về nhà mình, e lòng của anh em mình tán đởm như lòng mình chăng.
9A pau ka olelo a na luna i na kanaka, alaila e hoonoho lakou i na luna o ke kaua i alakai no na kanaka.
9Vừa khi các quan trưởng nói xong với dân sự, thì phải lập những tướng làm đầu dân sự.
10Aia hookokoke aku oe i ke kalanakauhale e kaua aku ia ia, e hai aku oe i ka mea e malu ai ia.
10Khi ngươi đến gần một cái thành đặng hãm, trước phải giảng hòa cùng nó.
11A ina i ae mai ia i ka mea e malu ai, a wehe mai ia nou, alaila e lilo na kanaka a pau i loaa malaila i mea hookupu nau, a e hookauwa mai lakou nau.
11Nếu thành đó đáp hòa và mở cửa cho ngươi, thì toàn dân sự ở đó sẽ nạp thuế và phục dịch ngươi.
12A i ole ia e ae mai i ka mea e malu ai me oe, aka, e hana mai ia i ke kaua me oe, alaila oe e hoopuni aku ai ia ia.
12Ví bằng thành không khứng hòa, nhưng khai chiến cùng ngươi, bấy giờ ngươi sẽ vây nó.
13Aia hoolilo mai o Iehova kou Akua ia ia iloko o kou lima, alaila e luku oe i na kane a pau o ia wahi me ka maka o ka pahikaua.
13Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ phó nó vào tay ngươi, rồi ngươi giết hết thảy người nam bằng lưỡi gươm.
14Aka, o na wahine a me na kamalii, a me na holoholona, a me na mea a pau iloko o ke kulanakauhale, a me kona waiwai pio a pau, e lawe pio oe ia mau mea nau; a e ai iho oe i ka waiwai pio o kou poe enemi a Iehova kou Akua i haawi mai ai ia oe.
14Song ngươi phải thâu cho mình những đàn bà, con trẻ, súc vật, và mọi vật chi ở trong thành, tức là mọi của cướp được. Ngươi sẽ ăn lấy của cướp của quân nghịch mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, ban cho ngươi.
15Pela oe e hana aku ai i na kulanakauhale a pau i mamao loa aku ia oe, aole no na kulanakauhale o keia mau lahuikanaka.
15Ngươi phải đối đãi như vậy cùng các thành ở cách xa ngươi, không thuộc về những dân tộc nầy.
16Aka, o na kulanakauhale o keia poe kanaka a Iehova kou Akua i haawi mai ai nou, mai hoola oe i kekahi mea e hanu ana.
16Nhưng trong các thành của những dân tộc nầy, mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi làm sản nghiệp, thì chớ để sống một vật nào biết thở;
17E luku loa aku ia lakou: i ka Heta, i ka Amora, i ka Kanaana, i ka Periza, i ka Heva, a me ka Iebusa, e like me ka Iehova kou Akua i kauoha mai ai ia oe:
17khá tận diệt dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Ca-na-an, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, dân Giê-bu-sít, y như Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã phán dặn,
18O ao mai auanei lakou ia oukou e hana aku e like me ka lakou mea haumia i hana aku ai lakou i ko lakou mau akua; a e hana hewa oukou ia Iehova i ko oukou Akua.
18để chúng nó không dạy các ngươi bắt chước làm theo những sự gớm ghiếc chúng nó đã làm, đặng cúng thờ các thần chúng nó, e các ngươi phạm tội cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi chăng.
19Ina e loihi kou hoopilikia ana i kekahi kulanakauhale i ke kaua ana aku e hoopio ia ia, mai luku wale oe i kona laau i ka hahau ana ia mea i ke koilipi; no ka mea, e ai paha oe i kona, mai kua ilalo oe ia mea, i mea e pono ai ke kaua ana; no ka mea, no ke kanaka ka laau o ke kula.
19Khi ngươi vây một thành nào lâu đặng hãm chiếm, chớ lấy rìu chặt những cây của thành đó, vì ngươi có thể ăn được trái nó. Vậy, chớ chặt nó; vì cây ngoại đồng há là một người để bị ngươi vây sao?
20O ka laau au i ike ai aole he laau ai, oia wale no kau e luku aku, a e kua ilalo, a kukulu iho me ia i pakaua no ke kulanakauhale i kaua mai ai ia oe, a hiolo ia.
20Ngươi chỉ phải phá hại và chặt những cây mình biết chẳng phải là cây ăn trái; hãy dùng nó cất đồn lũy để đánh thành đang làm giặc với mình đó, cho đến chừng nào nó đầu hàng.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.