Nambar 11
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
11 Kaminawk mah laisaep thui ih lok to Angraeng mah thaih naah, palungphui hmai baktiah amngaeh; to pongah Angraeng ih hmai mah nihcae salak to kangh moe, kangthla koek ohhaih ahmuen taeng ih thoemto kaminawk to duek o.
1Vả, dân sự bèn lằm bằm, và điều đó chẳng đẹp tai Đức Giê-hô-va. Đức Giê-hô-va nghe, cơn thạnh nộ Ngài nổi lên, lửa của Đức Giê-hô-va cháy phừng phừng giữa dân sự và thiêu hóa đầu cùng trại quân.
2To naah kaminawk loe Mosi khaeah hangh o; Mosi mah Angraeng khaeah lawkthuih naah, hmai to duek let.
2Dân sự bèn kêu la cùng Môi-se; Môi-se cầu xin Đức Giê-hô-va, thì lửa ngừng lại.
3Angraeng ih hmai mah nihcae salak to kangh pongah, to ahmuen to Taberah, tiah kawk o.
3Người ta đặt tên chỗ nầy là Tha-bê-ra, vì lửa của Đức Giê-hô-va đã cháy giữa dân sự.
4Israel kaminawk hoi nawnto kaom prae kalah kaminawk loe, zok amthlam o; Israel kaminawk doeh qah o moe, mi mah maw ka caak o hanah moi na paek tih?
4Bọn dân tạp ở trong dân Y-sơ-ra-ên sanh lòng tham muốn, đến đỗi dân Y-sơ-ra-ên lại khóc nữa mà rằng: Ai sẽ cho chúng tôi ăn thịt?
5Izip prae ah atho paek ai ah caak ih tanga moi, paye thaih, yaengkaem thaih, rasawn kathim hoi kanglung rasawn, kalah congca aannawk to ka poek o parai boeh;
5Chúng tôi nhớ những cá chúng tôi ăn nhưng không tại xứ Ê-díp-tô, những dưa chuột, dưa gang, củ kiệu, hành, và tỏi.
6toe vaihi loe ka hing o haih thazok sut boeh; hae ih manna khue ai ah loe, kalah tidoeh hnuk han koi om ai, tiah a thuih o.
6Bây giờ, linh hồn chúng tôi bị khô héo, không có chi hết! Mắt chỉ thấy ma-na mà thôi.
7Manna loe Coriander thingthai mu baktiah oh moe, arong loe bedellium thingthai mu hoiah anghmong.
7Vả, Ma-na hình như hột ngò, sắc như trân châu.
8Kaminawk loe caeh o moe, Manna akhuih o pacoengah, daengh o moe, long laom pongah takaw baktiah pahaih o; to loe situi hoiah haek ih takaw baktiah khraem.
8Dân sự đi tản ra và hốt lấy, rồi nghiền bằng cối xay, hay là giã bằng cối giã, nấu trong một cái nồi và làm bánh; nếm giống như bánh nhỏ có pha dầu.
9Ataihaih ahmuen ah aqum ih dantui krak naah, manna doeh dantui hoi nawnto krak toeng.
9Khi ban tối mù sương xuống trên trại quân, thì ma-na cũng xuống nữa.
10To naah kami boih angmacae ih thok taengah, angmacae imthung takoh boih hoi nawnto qahhaih lok to Mosi mah thaih; Angraeng loe palungphui parai pongah, Mosi doeh poek nawm ai.
10Vậy, Môi-se nghe dân sự khóc, mỗi người ở trong nhà mình, tại nơi cửa trại mình: cơn thạnh nộ của Đức Giê-hô-va nổi lên phừng phừng,
11To pongah Mosi mah Angraeng khaeah, Tipongah na tamna raihaih nang paek loe? Tikhoe na hmaa ah mikcuk naakrak ah ka om ai to mah, hae kaminawk boih ih hmuenzit ka nuiah nam tik loe?
11và Môi-se lấy làm buồn bực về điều đó. Môi-se bèn thưa cùng Đức Giê-hô-va rằng: Sao Ngài làm cho tôi tớ Ngài buồn? Sao tôi chẳng được ơn trước mặt Ngài, và sao Ngài lại chất gánh nặng của hết thảy dân sự nầy trên mình tôi?
12Hae kaminawk loe kai mah zok ah ka pomh ih kaminawk maw, tikhoe nawkta tapenkung mah nawkta to tapom baktih toengah, hae kaminawk hae ka ban ah tapom moe, nihcae ampanawk khaeah paek hanah lok na kam ih, prae thungah caeh haih hanah nang thuih loe?
12Tôi há có thọ thai dân nầy sao? há có sanh đẻ nó sao? mà Ngài lại phán biểu tôi rằng: Hãy ẵm dân nầy trong lòng ngươi, như người cha nuôi bồng đứa trẻ bú, cho đến xứ mà Ngài có thề hứa ban cho tổ phụ của chúng nó.
13Hae kaminawk hanah naa ih moi maw ka la pae thai tih? Nihcae mah kai khaeah, Caak han moi na paek ah, tiah ang hnik o.
13Tôi sẽ có thịt ở đâu đặng phát cho cả dân sự nầy? bởi vì họ khóc về tôi mà rằng: Hãy cho chúng tôi ăn thịt.
14Hae kaminawk hae kaimah bueng ka hoi thai mak ai; hae hmuen loe kai hanah azit hmoek.
14Tôi không thế một mình gánh hết dân sự nầy, vì thật là rất nặng nề cho tôi quá!
15To tiah kai hae nang ohsak moe, na mikhnuk ah koeh koiah ka oh nahaeloe, vaihiah na hum halat ah! Amtanghaih na hnusak hma ah, tiah a naa.
15Nếu Chúa đãi tôi như vậy, và nếu tôi được ơn trước mặt Chúa, xin thà giết tôi đi, để tôi không thấy sự khốn nạn tôi!
16Angraeng mah Mosi khaeah, Israel kacoehtanawk qui sarihto hoi zaehoikungnawk, na panoek ih ukkungnawk to nangmah hoi nawnto amkhuenghaih kahni im ah angdoet o thai hanah, kai khaeah angzo haih ah.
16Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Hãy nhóm hiệp cho ta bảy mươi người trong bực trưởng lão Y-sơ-ra-ên, tức là những kẻ ngươi biết là trưởng lão và cai quản dân sự; hãy dẫn các người ấy đến hội mạc, đứng tại đó với ngươi.
17To ah nang hoi lokthuih hanah kang zoh tathuk han; na nuiah kaom pakhra to ka lak moe, nihcae nuiah ka suek han; hae kaminawk hae nangmah bueng na hoi mak ai, kaminawk ih hmuen kazit to nihcae mah na lawn o tih.
17Đoạn, ta sẽ ngự xuống, nói chuyện tại đó với ngươi; ta sẽ lấy Thần cảm ngươi mà ban cho những người đó, để họ chịu gánh nặng về dân sự với ngươi, và ngươi không phải gánh một mình.
18Kaminawk khaeah hae tiah thui paeh; khawnbang hanah ciimcai oh, moi to na caa o tih; nangcae mah, Mi mah maw caak han moi na paek tih? Izip prae ah loe khosak kahoih ah ka oh o, tiah na qah o haih lok Angraeng mah thaih boeh pongah, Angraeng mah moi na paek o ueloe, na caa o tih boeh.
18Ngươi phải truyền cho dân sự rằng: Ngày mai phải dọn mình ra thánh, thì các ngươi sẽ ăn thịt. Vì chưng lỗ tai Đức Giê-hô-va có nghe các ngươi khóc mà rằng: Ai sẽ cho chúng tôi ăn thịt, vì chúng tôi lấy làm sung sướng tại xứ Ê-díp-tô, bởi cớ đó, Đức Giê-hô-va sẽ ban thịt cho các ngươi, thì các ngươi sẽ ăn.
19Nito, ni hnetto, ni pangato, ni hato, ni pumphaeto khue na caa o mak ai;
19Chẳng phải các ngươi sẽ ăn thịt một ngày, hai ngày, năm ngày, mười ngày hay là hai mươi ngày đâu;
20na hnah thung hoiah moi tacawt moe, na panuet o sut khoek to, khrato thung moi to na caa o poe tih; nangcae salakah kaom Angraeng to khet na patoek o moe, tih pongah maw Izip prae to ka caeh o taak? tiah anih hmaa ah na qah o pongah, khrah to thung moi to na caa o tuek tih, tiah a naa.
20nhưng cho đến một tháng trọn, cho đến chừng nào thịt tràn ra lỗ mũi, và các ngươi ngán đi, vì các ngươi đã bỏ Đức Giê-hô-va ở giữa mình, và khóc trước mặt Ngài, mà rằng: Vì sao chúng tôi đã ra khỏi xứ Ê-díp-tô?
21Toe Mosi mah loe, Kai hoi nawnto kholong caeh kami sang cumvai tarukto oh o; khrah to thung caak poe han ih moi to kang paek han, tiah na thuih.
21Môi-se thưa rằng: Trong dân sự tôi đang ở đây, có sáu trăm ngàn người đàn ông, mà Ngài có phán rằng: Ta sẽ phát thịt cho dân nầy ăn trong một tháng trọn.
22Nihcae caak kakhawt ah maitaw hoi tuunawk to boh han maw? Tuipui ih tanganawk boih naeh cadoeh, nihcae caak han khawt tih maw? tiah a naa.
22Người ta há sẽ giết chiên và bò đến đỗi được đủ cho họ sao? hay là người ta há sẽ gom hết thảy cá dưới biển đến nỗi được đủ cho họ sao?
23Angraeng mah Mosi khaeah, Angraeng ih ban loe duem tet maw? Ka thuih ih lok baktih toengah nangcae khaeah oh maw, om ai, tito vaihi na hnu tih, tiah a naa.
23Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Tay của Đức Giê-hô-va đã vắn lại sao? Ngươi sẽ xem thử điều ta đã phán cùng ngươi có xảy đến hay chăng.
24Mosi loe caeh moe, Angraeng mah thuih ih loknawk to kaminawk khaeah thuih pae; nihcae thung ih kacoehta qui sarihto a kawk moe, kahni im taengah ohsak.
24Môi-se bèn đi ra, thuật lại các lời Đức Giê-hô-va cho dân sự, rồi nhóm hiệp bảy mươi người trong bực trưởng lão của dân sự, đặt để xung quanh Trại.
25To naah Angraeng loe tamai hoiah anghum tathuk moe, anih khaeah lokthuih; anih nui ah kaom Pakhra to a lak moe, kacoehta qui sarihto nuiah a suek; nihcae nuiah Pakhra oh naah, nihcae loe boeng ai ah lok taphong o.
25Đức Giê-hô-va bèn ngự xuống trong mây, phán cùng Môi-se; Ngài lấy Thần cảm người và ban cho bảy mươi người trưởng lão. Vừa khi Thần ở trên bảy mươi người trưởng lão, bèn được cảm động nói tiên tri, nhưng không cứ nói mãi.
26Toe kami hnetto, Eldad hoi Medad loe ataihaih ahmuen ah oh hoi poe; nihnik doeh kacoehta thungah athum hoi toeng, toe kahni im taengah caeh hoi ai; nihnik nuiah doeh Pakhra to oh pongah, atai hoi haih ahmuen ah lok taphong hoi toeng.
26Có hai người ở lại trong trại quân; một người tên là Eân-đát, một người tên là Mê-đát, được Thần cảm động, nói tiên tri tại trại quân. Hai người nầy thuộc về bọn được biên tên, nhưng không có đến hội mạc.
27Thendoeng maeto loe cawnh moe, Mosi khaeah, Eldad hoi Medad hnik doeh ataihaih im ah lok taphong hoi toeng, tiah a naa.
27Một đứa trai trẻ chạy thuật lại cùng Môi-se rằng: Eân-đát và Mê-đát nói tiên tri trong trại quân.
28Mosi ih tamna, thendoeng, Nun capa Joshua mah, Ka angraeng Mosi, nihnik to lokthuih anghaksak ah, tiah a naa.
28Giô-suê, con trai của Nun, là người hầu việc Môi-se, đáp lại mà rằng: Hỡi Môi-se, chúa tôi, hãy cấm chúng nó!
29Toe Mosi mah anih khaeah, Ka nuiah uthaih palungthin na tawnh maw? Angraeng ih kaminawk loe tahmaa ah ni oh o boih, Angraeng mah nihcae nuiah angmah ih Muithla to suem tih, tiah a naa.
29Môi-se đáp rằng: Ngươi ganh cho ta chăng? Oâi! chớ chi cả dân sự của Đức Giê-hô-va đều là người tiên tri, và chớ chi Đức Giê-hô-va ban Thần của Ngài cho họ!
30To pacoengah Mosi hoi Israel kacoehtanawk loe a oh o haih im ah amlaem o let.
30Môi-se và mấy người trưởng lão đều lui vào trại quân.
31To naah Angraeng khae hoiah takhi to songh moe, nihcae ataihaih im hae bang hoi ni to caehhaih loklam, ho bang hoiah doeh ni to caehhaih loklam karoek to, tuipui hoiah kuikoem to a sin pae; long hoi dong hnetto kathah ah angpopsak.
31Đức Giê-hô-va bèn khiến một trận gió nổi từ biển, dẫn những chim cút đến vải trên trại quân và xung quanh, bên nầy trải ra dài chừng một ngày đường đi, và bên kia trải ra dài chừng một ngày đường đi, khỏi mặt đất chừng hai thước bề cao.
32To naah kaminawk mah athun qui, aqum puek, kuikoem to akhuih o, khawnbang khoek to a lak o; tamsi koek akhui kami mah homer hato akhuih o; kuikoem to atai o haih im taeng boih ah tapop o.
32Dân sự đứng dậy lượm những cút trong ngày đó, đêm đó và trọn ngày sau; ai lượm ít hơn hết có mười ô-me; người ta căng nó khắp chung quanh trại quân.
33Toe kuikoem moi to caa o ai naah, Angraeng palungphuihaih kaminawk nuiah phak; to pongah nihcae khaeah kanung parai nathaih kasae to phaksak.
33Thịt vẫn còn nơi răng, chưa nhai, thì cơn giận của Đức Giê-hô-va nổi lên cùng dân sự, hành dân sự một tai vạ rất nặng.
34Caak amoeh hmoek kaminawk to aphum o pongah, to ahmuen to Kibroth-Hattaavah, tiah kawk o.
34Người ta đặt tên chỗ đó là Kíp-rốt Ha-tha-va; vì tại đó người ta chôn dân sự sanh lòng tham muốn.
35Kaminawk loe Kibroth-Hattavah ahmuen hoiah Hazeroth ahmuen ah caeh o moe, to ah atai o.
35Từ Kíp-rốt Ha-tha-va dân sự đi đến Hát-sê-rốt, rồi ngừng lại tại đó.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.