4. Мојсијева
Chapter 11
Daničić–Karadžić Bible (…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

4. Мојсијева 11

Daničić–Karadžić Bible (1868), Cyrillic
Vietnamese Bible (1923 translation)
1После стаде се тужити народ да му је тешко; а то не би по вољи Господу; и кад Господ чу, разгневи се; и распали се на њих огањ Господњи, и сажеже крајње у логору.
1Vả, dân sự bèn lằm bằm, và điều đó chẳng đẹp tai Đức Giê-hô-va. Đức Giê-hô-va nghe, cơn thạnh nộ Ngài nổi lên, lửa của Đức Giê-hô-va cháy phừng phừng giữa dân sự và thiêu hóa đầu cùng trại quân.
2Тада завапи народ к Мојсију, а Мојсије се помоли Господу, и угаси се огањ.
2Dân sự bèn kêu la cùng Môi-se; Môi-se cầu xin Đức Giê-hô-va, thì lửa ngừng lại.
3И прозва се оно место Тавера, јер се распали на њих огањ Господњи.
3Người ta đặt tên chỗ nầy là Tha-bê-ra, vì lửa của Đức Giê-hô-va đã cháy giữa dân sự.
4А светина што беше међу њима, беше врло лакома, те и синови Израиљеви стадоше плакати говорећи: Ко ће нас нахранити меса?
4Bọn dân tạp ở trong dân Y-sơ-ra-ên sanh lòng tham muốn, đến đỗi dân Y-sơ-ra-ên lại khóc nữa mà rằng: Ai sẽ cho chúng tôi ăn thịt?
5Опоменусмо се риба што јеђасмо у Мисиру забадава, и краставаца и диња и лука црног и белог.
5Chúng tôi nhớ những cá chúng tôi ăn nhưng không tại xứ Ê-díp-tô, những dưa chuột, dưa gang, củ kiệu, hành, và tỏi.
6А сада посахну душа наша, нема ништа осим мане пред очима нашим.
6Bây giờ, linh hồn chúng tôi bị khô héo, không có chi hết! Mắt chỉ thấy ma-na mà thôi.
7А мана беше као семе коријандрово, а боја му беше као боја у бдела.
7Vả, Ma-na hình như hột ngò, sắc như trân châu.
8И излажаше народ, те купљаху, и мељаху на жрвњима или туцаху у ступама, и куваху у котлу, или мешаху погаче; а укус јој беше као укус од новог уља.
8Dân sự đi tản ra và hốt lấy, rồi nghiền bằng cối xay, hay là giã bằng cối giã, nấu trong một cái nồi và làm bánh; nếm giống như bánh nhỏ có pha dầu.
9И кад падаше роса по логору ноћу, падаше с њом и мана.
9Khi ban tối mù sương xuống trên trại quân, thì ma-na cũng xuống nữa.
10И чу Мојсије где народ плаче у породицама својим, сваки на вратима од шатора свог; и Господ се разгневи врло, и Мојсију би тешко.
10Vậy, Môi-se nghe dân sự khóc, mỗi người ở trong nhà mình, tại nơi cửa trại mình: cơn thạnh nộ của Đức Giê-hô-va nổi lên phừng phừng,
11Па рече Мојсије Господу: Зашто учини такво зло слузи свом? И зашто не нађох милости пред Тобом, него метну на ме терет свега народа овог?
11và Môi-se lấy làm buồn bực về điều đó. Môi-se bèn thưa cùng Đức Giê-hô-va rằng: Sao Ngài làm cho tôi tớ Ngài buồn? Sao tôi chẳng được ơn trước mặt Ngài, và sao Ngài lại chất gánh nặng của hết thảy dân sự nầy trên mình tôi?
12Еда ли ја зачех сав овај народ? Еда ли га ја родих, кад ми кажеш: Изнеси га у наручју свом, као што носи дојиља дете, у ону земљу за коју си се заклео оцима њиховим.
12Tôi há có thọ thai dân nầy sao? há có sanh đẻ nó sao? mà Ngài lại phán biểu tôi rằng: Hãy ẵm dân nầy trong lòng ngươi, như người cha nuôi bồng đứa trẻ bú, cho đến xứ mà Ngài có thề hứa ban cho tổ phụ của chúng nó.
13Откуда мени меса да дам свему овом народу? Јер плачу преда мном говорећи: Дај нам меса да једемо.
13Tôi sẽ có thịt ở đâu đặng phát cho cả dân sự nầy? bởi vì họ khóc về tôi mà rằng: Hãy cho chúng tôi ăn thịt.
14Не могу ја сам носити сав народ овај, јер је тешко за мене.
14Tôi không thế một mình gánh hết dân sự nầy, vì thật là rất nặng nề cho tôi quá!
15Ако ћеш тако чинити са мном, убиј ме боље, ако сам нашао милост пред Тобом, да не гледам зло своје.
15Nếu Chúa đãi tôi như vậy, và nếu tôi được ơn trước mặt Chúa, xin thà giết tôi đi, để tôi không thấy sự khốn nạn tôi!
16А Господ рече Мојсију: Сабери ми седамдесет људи између старешина Израиљевих, које знаш да су старешине народу и управитељи његови, и доведи их к шатору од састанка, нека онде стану с тобом.
16Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Hãy nhóm hiệp cho ta bảy mươi người trong bực trưởng lão Y-sơ-ra-ên, tức là những kẻ ngươi biết là trưởng lão và cai quản dân sự; hãy dẫn các người ấy đến hội mạc, đứng tại đó với ngươi.
17Тада ћу сићи и говорити онде с тобом, и узећу од духа који је на теби и метнућу на њих, да носе с тобом терет народни и да не носиш ти сам.
17Đoạn, ta sẽ ngự xuống, nói chuyện tại đó với ngươi; ta sẽ lấy Thần cảm ngươi mà ban cho những người đó, để họ chịu gánh nặng về dân sự với ngươi, và ngươi không phải gánh một mình.
18А народу реци: Приправите се за сутра да једете меса, јер плакасте да Господ чу, и рекосте: Ко ће нас нахранити меса? Јер нам добро беше у Мисиру. Даће вам, дакле, Господ меса и јешћете.
18Ngươi phải truyền cho dân sự rằng: Ngày mai phải dọn mình ra thánh, thì các ngươi sẽ ăn thịt. Vì chưng lỗ tai Đức Giê-hô-va có nghe các ngươi khóc mà rằng: Ai sẽ cho chúng tôi ăn thịt, vì chúng tôi lấy làm sung sướng tại xứ Ê-díp-tô, bởi cớ đó, Đức Giê-hô-va sẽ ban thịt cho các ngươi, thì các ngươi sẽ ăn.
19Нећете јести један дан, ни два дана, ни пет дана, ни десет дана, ни двадесет дана;
19Chẳng phải các ngươi sẽ ăn thịt một ngày, hai ngày, năm ngày, mười ngày hay là hai mươi ngày đâu;
20него цео месец дана, докле вам на нос не удари и не огади вам се, зато што одбацисте Господа који је међу вама и плакасте пред Њим говорећи: Зашто изиђосмо из Мисира?
20nhưng cho đến một tháng trọn, cho đến chừng nào thịt tràn ra lỗ mũi, và các ngươi ngán đi, vì các ngươi đã bỏ Đức Giê-hô-va ở giữa mình, và khóc trước mặt Ngài, mà rằng: Vì sao chúng tôi đã ra khỏi xứ Ê-díp-tô?
21А Мојсије рече: Шест стотина хиљада пешака има народа, у коме сам, па Ти кажеш: Даћу им меса да једу цео месец дана.
21Môi-se thưa rằng: Trong dân sự tôi đang ở đây, có sáu trăm ngàn người đàn ông, mà Ngài có phán rằng: Ta sẽ phát thịt cho dân nầy ăn trong một tháng trọn.
22Еда ли ће им се поклати овце и говеда да им достане? Или ће им се покупити све рибе морске да им буде доста?
22Người ta há sẽ giết chiên và bò đến đỗi được đủ cho họ sao? hay là người ta há sẽ gom hết thảy cá dưới biển đến nỗi được đủ cho họ sao?
23А Господ рече Мојсију: Зар рука Господња неће бити довољна? Видећеш хоће ли бити шта ти рекох или неће.
23Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Tay của Đức Giê-hô-va đã vắn lại sao? Ngươi sẽ xem thử điều ta đã phán cùng ngươi có xảy đến hay chăng.
24И Мојсије изиђе и рече народу речи Господње; и сабра седамдесет људи између старешина народних, и постави их око шатора.
24Môi-se bèn đi ra, thuật lại các lời Đức Giê-hô-va cho dân sự, rồi nhóm hiệp bảy mươi người trong bực trưởng lão của dân sự, đặt để xung quanh Trại.
25И Господ сиђе у облаку и говори к њему, и узевши од духа који беше на њему метну на оних седамдесет људи старешина; и кад дух дође на њих, пророковаху, али више никад.
25Đức Giê-hô-va bèn ngự xuống trong mây, phán cùng Môi-se; Ngài lấy Thần cảm người và ban cho bảy mươi người trưởng lão. Vừa khi Thần ở trên bảy mươi người trưởng lão, bèn được cảm động nói tiên tri, nhưng không cứ nói mãi.
26А два човека осташе у логору, једном беше име Елдад, а другом Модад, на које дође дух, јер и они беху записани, али не дођоше к шатору, и стадоше пророковати у логору.
26Có hai người ở lại trong trại quân; một người tên là Eân-đát, một người tên là Mê-đát, được Thần cảm động, nói tiên tri tại trại quân. Hai người nầy thuộc về bọn được biên tên, nhưng không có đến hội mạc.
27И дотрча момак, те јави Мојсију говорећи: Елдад и Модад пророкују у логору.
27Một đứa trai trẻ chạy thuật lại cùng Môi-se rằng: Eân-đát và Mê-đát nói tiên tri trong trại quân.
28А Исус, син Навин, слуга Мојсијев, један од момака његових, рече говорећи: Мојсије, господару мој, забрани им.
28Giô-suê, con trai của Nun, là người hầu việc Môi-se, đáp lại mà rằng: Hỡi Môi-se, chúa tôi, hãy cấm chúng nó!
29А Мојсије му одговори: Зар завидиш мене ради? Камо да сав народ Господњи постану пророци и да Господ пусти дух свој на њих!
29Môi-se đáp rằng: Ngươi ganh cho ta chăng? Oâi! chớ chi cả dân sự của Đức Giê-hô-va đều là người tiên tri, và chớ chi Đức Giê-hô-va ban Thần của Ngài cho họ!
30Потом се врати Мојсије у логор са старешинама Израиљевим.
30Môi-se và mấy người trưởng lão đều lui vào trại quân.
31Тада се подиже ветар од Господа, и потера од мора препелице, и разасу их по логору на дан хода одовуда и на дан хода одонуда око логора, на два лакта од земље.
31Đức Giê-hô-va bèn khiến một trận gió nổi từ biển, dẫn những chim cút đến vải trên trại quân và xung quanh, bên nầy trải ra dài chừng một ngày đường đi, và bên kia trải ra dài chừng một ngày đường đi, khỏi mặt đất chừng hai thước bề cao.
32И уставши народ цео онај дан и сву ноћ и цео други дан купљаше препелице: и ко накупи најмање накупи десет гомора; и повешаше их себи редом око логора.
32Dân sự đứng dậy lượm những cút trong ngày đó, đêm đó và trọn ngày sau; ai lượm ít hơn hết có mười ô-me; người ta căng nó khắp chung quanh trại quân.
33Али месо још им беше у зубима, јоште га не поједоше, а Господ се разгневи на народ и удари Господ народ помором врло великим.
33Thịt vẫn còn nơi răng, chưa nhai, thì cơn giận của Đức Giê-hô-va nổi lên cùng dân sự, hành dân sự một tai vạ rất nặng.
34И прозва се оно место Киврот-Атава јер онде укопаше народ који се беше полакомио.
34Người ta đặt tên chỗ đó là Kíp-rốt Ha-tha-va; vì tại đó người ta chôn dân sự sanh lòng tham muốn.
35И пође народ од Киврот-Атаве у Асирот, и стадоше у Асироту.
35Từ Kíp-rốt Ha-tha-va dân sự đi đến Hát-sê-rốt, rồi ngừng lại tại đó.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.