4. Мојсијева
Chapter 14
Daničić–Karadžić Bible (…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

4. Мојсијева 14

Daničić–Karadžić Bible (1868), Cyrillic
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Тада се подиже сав збор и стаде викати, и народ плакаше ону ноћ.
1Cả hội chúng bèn cất tiếng la lên, và dân sự khóc lóc trong đêm đó.
2И викаху на Мојсија и на Арона сви синови Израиљеви; и сав збор рече им: Камо да смо помрли у земљи мисирској или да помремо у овој пустињи!
2Hết thảy dân Y-sơ-ra-ên lằm bằm cùng Môi-se và A-rôn; cả hội chúng nói cùng hai người rằng: Chớ chi chúng tôi đã chết trong xứ Ê-díp-tô, hay là đã chết trong đồng vắng nầy!
3Зашто нас води Господ у ту земљу да изгинемо од мача, жене наше и деца наша да постану робље? Није ли боље да се вратимо у Мисир?
3Vì cớ nào Đức Giê-hô-va dẫn chúng tôi vào xứ nầy đặng bị gươm mà ngã? Vợ và con nhỏ chúng tôi sẽ bị làm một miếng mồi. Về phần chúng tôi, há chẳng khá trở về xứ Ê-díp-tô hơn sao?
4И рекоше међу собом: Да поставимо старешину, па да се вратимо у Мисир.
4Rồi dân sự nói với nhau rằng: Chúng ta hãy lập lên một quan trưởng, và trở về xứ Ê-díp-tô đi.
5Тада Мојсије и Арон падоше ничице пред свим збором синова Израиљевих.
5Môi-se và A-rôn bèn sấp mình xuống trước mặt cả hội dân Y-sơ-ra-ên.
6А Исус син Навин и Халев син Јефонијин између оних што уходише земљу раздреше хаљине своје,
6Giô-suê, con trai của Nun, và Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê, là hai người trong bọn đi do thám xứ, bèn xé quần áo mình.
7и рекоше свему збору синова Израиљевих говорећи: Земља коју прођосмо и уходисмо, врло је добра земља.
7Hai người nói cùng cả hội dân Y-sơ-ra-ên rằng: Xứ mà chúng tôi đã đi khắp đặng do thám thật là một xứ rất tốt;
8Ако смо мили Господу, Он ће нас одвести у ту земљу, и даће нам је; а то је земља у којој тече млеко и мед.
8nếu Đức Giê-hô-va đẹp lòng cùng chúng ta, ắt sẽ đem chúng ta vào xứ nầy mà ban cho; ấy là một xứ đượm sữa và mật.
9Само се не одмећите Господа, и не бојте се народа оне земље; јер их можемо појести; одступио је од њих заклон њихов, а с нама је Господ, не бојте их се.
9Chỉ các ngươi chớ dấy loạn cùng Đức Giê-hô-va, và đừng sợ dân của xứ, vì dân đó sẽ là đồ nuôi chúng ta, bóng che chở họ đã rút đi khỏi họ rồi, và Đức Giê-hô-va ở cùng ta. Chớ sợ chi.
10Тада рече сав збор да их побију камењем; али се показа слава Господња свим синовима Израиљевим у шатору од састанка.
10Bấy giờ cả hội chúng nói ném đá hai người nầy, nhưng sự vinh quang của Đức Giê-hô-va hiện ra trên hội mạc, trước mặt dân Y-sơ-ra-ên.
11И рече Господ Мојсију: Докле ће ме вређати тај народ? Кад ли ће ми веровати после толиких знака што сам учинио међу њима?
11Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Dân nầy khinh ta và không tin ta cho đến chừng nào, mặc dầu các phép lạ ta làm giữa chúng nó?
12Ударићу га помором, и расућу га; а од тебе ћу учинити народ велик и јачи од овог.
12Ta sẽ giáng cho dân sự nầy dịch lệ và tiêu diệt phần cơ nghiệp của nó đi; nhưng ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn hơn và mạnh hơn nó.
13А Мојсије рече Господу: Али ће чути Мисирци, између којих си извео овај народ силом својом,
13Môi-se thưa cùng Đức Giê-hô-va rằng: Dân Ê-díp-tô có hay rằng Chúa cậy quyền năng Chúa đem dân nầy ra khỏi họ;
14и рећи ће с људима ове земље, који су чули да си Ти, Господе, био усред народа и да си се очима виђао, Господе, и облак твој да је стајао над њима, и у ступу од облака да си ишао пред њима дану и у ступу огњеном ноћу;
14và có thuật điều đó cho dân xứ nầy. Oâi Đức Giê-hô-va! người ta biết rằng Chúa ngự giữa dân nầy, Chúa hiện ra cho mắt chúng thấy, trụ mây Chúa ở trên dân nầy, và Chúa đi trước, ban ngày trong một trụ mây, ban đêm trong một trụ lửa.
15па кад побијеш овај народ, све до једног, говориће народи, који су чули приповест о Теби, говорећи:
15Nếu Chúa giết hết dân nầy như thể giết một người, thì các nước đã nghe nói về Chúa sẽ nói rằng:
16Није могао Господ довести народ овај у земљу коју им је са заклетвом обећао, зато их поби у пустињи.
16Đức Giê-hô-va không thể dẫn dân nầy vào xứ mà Ngài đã thề ban cho; bởi cớ đó, Ngài giết chết chúng nó trong đồng vắng.
17Нека се, дакле, прослави сила Господња, као што си рекао говорећи:
17Vả, bây giờ, tôi xin quyền năng của Chúa hiện ra cách oai nghiêm như Chúa đã nói rằng:
18Господ дуго чека и обилан је милошћу, прашта безакоње и грех, али не правда кривога, него походи безакоње отачко на синовима до трећег и четвртог колена.
18Đức Giê-hô-va vốn chậm nóng giận và đầy ơn; hay xá điều gian ác và tội lỗi; nhưng không kể kẻ có tội là vô tội, và nhơn tội tổ phụ phạt con cháu trải ba bốn đời.
19Опрости безакоње овом народу ради велике милости своје, као што си праштао народу овом од Мисира довде.
19Tôi xin Chúa tha tội gian ác của dân nầy tùy theo ơn lớn của Chúa, như Chúa đã tha từ xứ Ê-díp-tô đến đây.
20А Господ рече: Праштам по речи твојој.
20Đức Giê-hô-va đáp rằng: Ta đã tha như lời ngươi xin.
21Али тако ја жив био, и тако сва земља била пуна славе Господње,
21Nhưng ta chỉ sự hằng sống ta mà quả quyết rằng, sự vinh quang của Đức Giê-hô-va sẽ đầy dẫy khắp trái đất!
22ти људи који видеше славу моју и знаке моје што сам учинио у Мисиру и у овој пустињи, и кушаше ме већ десет пута, и не послушаше речи моје,
22Trong mọi người đã thấy sự vinh quang ta, phép lạ ta đã làm tại xứ Ê-díp-tô và nơi đồng vắng, là các ngươi đã thử ta mười lần và đã không nghe lời ta,
23неће видети земље коју са заклетвом обећах оцима њиховим, неће видети ни један од оних који ме увредише.
23thì chẳng một ai sẽ thấy xứ mà ta thề hứa cho tổ phụ chúng nó. Chẳng ai mà đã khinh ta sẽ thấy xứ đó đâu!
24А слугу свог Халева, у коме беше други дух и који се сасвим мене држао, њега ћу одвести у земљу у коју је ишао, и семе ће је његово наследити.
24Nhưng vì kẻ tôi tớ Ca-lép ta không đồng lòng cùng chúng nó, theo ta một cách trung tín, thì ta sẽ đem người vào xứ mà người đã có đi, và dòng dõi người sẽ được xứ làm sản nghiệp.
25Али Амалик и Хананеј седе у долини, зато се сутра вратите натраг, и идите у пустињу к црвеном мору.
25Dân A-ma-léc và dân Ca-na-an ở trong trũng; ngày mai các ngươi hãy trở lui lại sau, đi đến đồng vắng về hướng Biển đỏ.
26Још рече Господ Мојсију и Арону говорећи:
26Đức Giê-hô-va cũng phán cùng Môi-se và A-rôn, mà rằng:
27Докле ће тај зли збор викати на ме, чуо сам вику синова Израиљевих, који вичу на ме.
27Ta sẽ chịu hội chúng hung dữ nầy hay lằm bằm cùng ta cho đến chừng nào? Ta đã nghe lời lằm bằm của dân Y-sơ-ra-ên oán trách ta.
28Кажи им: Тако ја жив био, каже Господ, учинићу вам онако како сте говорили и ја чух.
28Hãy nói với dân chúng: Đức Giê-hô-va nói rằng: Ta chỉ sự hằng-sống ta mà thề, ta sẽ đãi các ngươi tùy theo lời ta đã nghe các ngươi nói;
29У овој ће пустињи попадати мртва телеса ваша, и сви између вас који су избројани у свем броју вашем од двадесет година и више, који викасте на ме,
29những thây các ngươi sẽ ngã nằm trong đồng vắng nầy. Các ngươi mà người ta đã tu bộ, hết thảy bao nhiêu cũng vậy, từ hai mươi tuổi sắp lên, là những kẻ đã lằm bằm cùng ta,
30нећете ући у земљу, за коју подигавши руку своју заклех се да ћу вас населити у њој, осим Халева, сина Јефонијиног и Исуса, сина Навиног.
30thì chẳng hề được vào xứ mà ta đã thề cho các ngươi ở, ngoại trừ Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê, và Giô-suê, con trai của Nun.
31А децу вашу, за коју рекосте да ће постати робље, њих ћу одвести, и они ће познати земљу за коју ви не марите.
31Nhưng ta sẽ đem vào xứ những con trẻ của các ngươi mà các ngươi có nói rằng: Chúng nó sẽ bị làm một miếng mồi; rồi chúng nó sẽ biết xứ các ngươi đã chê bai.
32А ваша телеса мртва ће попадати у овој пустињи.
32Còn những thây các ngươi sẽ ngã nằm trong đồng vắng nầy.
33А деца ваша биће пастири по пустињи четрдесет година, и носиће кар за прељубе ваше, докле не испропадају телеса ваша у пустињи.
33Con cái các ngươi sẽ chăn chiên nơi đồng vắng trong bốn mươi năm, và sẽ mang hình phạt vì tội thông dâm của các ngươi, cho đến chừng nào thây của các ngươi đã ngã rạp hết trong đồng vắng.
34По броју дана, за које уходисте земљу, четрдесет дана, за сваки дан по годину, носићете грехе своје, четрдесет година, и познаћете да сам прекинуо с вама.
34Các ngươi đi do thám xứ bao nhiêu ngày, nghĩa là bốn mươi ngày, thì các ngươi cũng sẽ mang hình phạt vì tội gian ác mình bấy nhiêu năm, nghĩa là bốn mươi năm, một năm đền cho một ngày; bấy giờ các ngươi sẽ biết ta đã xây khỏi các ngươi.
35Ја Господ рекох, и тако ћу учинити свему том збору злом, који се сабрао на ме: у пустињи ће пропасти и ту помрети.
35Ta, Đức Giê-hô-va, đã phán: Ta sẽ làm điều nầy cho cả hội chúng hung dữ nầy đã hiệp lại nghịch cùng ta; chúng nó sẽ bị hao mòn và chết tại trong đồng vắng nầy.
36А људи које беше послао Мојсије да уходе земљу, и који вративши се побунише сав збор да виче на њ, просувши зао глас о земљи,
36Những người mà Môi-se đã sai đi do thám xứ, khi trở về có xui cho cả hội chúng lằm bằm cùng Môi-se,
37ти људи, који просуше зао глас о земљи, помреше од помора пред Господом;
37và có phao phản xứ, những người nầy đều bị một tai vạ hành chết trước mặt Đức Giê-hô-va.
38а Исус, син Навин и Халев, син Јефонијин осташе живи између људи који су ишли да уходе земљу.
38Nhưng trong bọn người đi do thám xứ, chỉ có Giô-suê, con trai của Nun, và Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê, còn sống được.
39И Мојсије каза све ове речи свим синовима Израиљевим, и народ плака веома.
39Môi-se thuật lại những lời nầy cho cả dân Y-sơ-ra-ên; rồi có một sự thảm sầu rất lớn trong dân sự.
40А сутрадан уставши пођоше наврх горе, и рекоше: Ево нас, идемо на место за које је говорио Господ, јер згрешисмо.
40Đoạn, dân sự dậy sớm đi lên chót núi mà nói rằng: Chúng tôi đây sẽ đi lên tới chỗ Đức Giê-hô-va đã phán-hứa, vì chúng tôi có phạm tội.
41Али Мојсије рече: Зашто преступате заповест Господњу? Од тога неће бити ништа.
41Song Môi-se nói rằng: Sao các ngươi trái mạng Đức Giê-hô-va? Sự đó sẽ chẳng may mắn đâu.
42Не идите горе, јер Господ није међу вама; немојте да вас побију непријатељи ваши.
42Chớ đi lên đó, e các ngươi bị quân nghịch đánh bại chăng; vì Đức Giê-hô-va không còn ở giữa các ngươi nữa.
43Јер је Амалик и Хананеј тамо пред вама, и изгинућете од мача, јер одустависте Господа, па неће ни Господ бити с вама.
43Kìa, dân A-ma-léc và dân Ca-na-an ở đằng trước các ngươi, các ngươi sẽ bị gươm ngã rạp, bởi vì đã bội nghịch cùng Đức Giê-hô-va, Đức Giê-hô-va sẽ không ở cùng các ngươi.
44Али они, ипак, навалише да иду наврх горе; али ковчег завета Господњег и Мојсије не изађоше из логора.
44Nhưng dân sự cố ý đi lên chót núi; còn hòm giao ước của Đức Giê-hô-va và Môi-se không đi ra khỏi trại quân.
45Тада сиђе Амалик и Хананеј, који живљаху у оној гори, и разбише их и бацише дори до Орме.
45Dân A-ma-léc và dân Ca-na-an ở trong núi nầy đổ xuống, đánh bại và phân thây dân Y-sơ-ra-ên cho đến Họt-ma.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.