Nambar
Chapter 9
Asang Khongca Bible (Eas…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Izip prae hoi tacawt o pacoeng, saning hnetto haih, khrah hmaloe koek naah, Sinai praezaek ah Angraeng mah Mosi khaeah,
1Tháng giêng năm thứ hai, sau khi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se trong đồng vắng Si-na-i rằng:
2atue phak naah Israel kaminawk misong loihaih ni to uumsak ah.
2Dân Y-sơ-ra-ên phải giữ lễ Vượt-qua theo k” nhất định.
3Sakhaih atawk baktih, sakhaih daan baktih toengah, hae khrah hatlai palito, duembang phak naah loe, uumhaih poih to sah oh, tiah a naa.
3Các ngươi phải giữ lễ đó theo k” nhất định, tức là ngày mười bốn tháng nầy, vào buổi chiều tối; các ngươi phải làm theo hết thảy lệ định và luật pháp về lễ đó.
4To pongah Mosi mah Israel kaminawk khaeah, misong loihaih poih to sak o hanah a thuih pae.
4Vậy, Môi-se nói cùng dân Y-sơ-ra-ên để họ giữ lễ Vượt-qua.
5To pongah khrah tangsuek, ni hatlai palito naah, Sinai praezaek ah misong loihaih poih to a sak o; Angraeng mah Mosi khaeah thuih ih lok baktih toengah, Israel kaminawk mah sak o.
5Dân Y-sơ-ra-ên giữ lễ Vượt-qua trong tuần tháng giêng, ngày mười bốn, vào buổi chiều tối, tại đồng vắng Si-na-i, làm y mọi điều Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
6Toe kadueh kami pongah kaciim ai thoemto kaminawk loe, misong loihaih poih to sah o thai ai pongah, Mosi hoi Aaron khaeah angzoh o moe,
6Vả, có mấy người vì cớ xác chết mà bị ô uế, không được giữ lễ Vượt-qua trong ngày đó, bèn đến trước mặt Môi-se và A-rôn,
7Mosi khaeah, Kadueh kami pongah kaicae loe ka ciim o ai boeh; tipongah atue phak naah kalah Israel kaminawk baktih toengah, Angraeng khaeah hmuen tathlanghaih nang sahsak ai loe? tiah a naa o.
7mà thưa cùng Môi-se rằng: Chúng tôi bị lây ô uế vì xác chết của loài người; sao tại trong dân Y-sơ-ra-ên chúng tôi phải bị cất phần dâng của lễ cho Đức Giê-hô-va theo k” đã chỉ?
8Mosi mah nihcae khaeah, Nangcae kawng pongah Angraeng mah lok na paek ai karoek to, zing o raeh, tiah a naa.
8Môi-se đáp rằng: Hãy đợi để ta biết điều Đức Giê-hô-va sẽ truyền dạy về các ngươi.
9To naah Angraeng mah Mosi khaeah,
9Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng:
10Israel kaminawk khaeah, Nangcae hoi na caanawk loe kadueh kami pongah ciimcai ai ah na oh o moe, kholong kangthla ah na caeh o cadoeh, misong loihaih poih to na sah o thai tih.
10Hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Khi một người trong vòng các ngươi hay là trong vòng hậu đại các ngươi bị ô uế vì cớ xác chết, hoặc mắc đi xa, thì cũng buộc phải giữ lễ Vượt-qua cho Đức Giê-hô-va.
11Khrah hnetto haih, ni hatlai palito, duembang ah sah oh; nihcae mah tuucaa moi hoi aan kakhaa to taeh thuh ai ih takaw hoiah nawnto caak o han oh.
11Mấy người đó phải giữ lễ nầy ngày mười bốn tháng hai, vào buổi chiều tối, ăn bánh không men cùng rau đắng,
12Moi to khawnbang khoek to amtlai o sak han om ai; ahuh to khaek ai ah, misong loihaih poih sakhaih atawk baktih toengah sak o han oh.
12chớ nên để chi còn dư lại đến sáng mai, và cũng chẳng nên bẻ gãy những xương; phải giữ theo mọi luật lệ về lễ Vượt-qua vậy.
13Toe amhnonghaih om ai, kholong ah doeh caeh ai to mah, misong loihaih poih to sah ai kami loe, atue phak naah Angraeng khaeah hmuen tathlanghaih sah ai pongah, anih to angmah ih kaminawk salak hoiah takhoe ving han oh; anih loe zaehaih atho to hnu tih.
13Nhưng còn ai tinh sạch và không có đi xa, nếu chẳng giữ lễ Vượt-qua thì sẽ bị truất khỏi dân sự mình: vì người ấy chẳng dâng của lễ cho Đức Giê-hô-va trong k” nhất định; người sẽ mang lấy tội mình.
14Nangcae khaeah kaom angvin mah Angraeng hanah misong loihaih ni to uum han koeh nahaeloe, sak zong ih misong loihaih baktih, poih sakhaih atawk baktih toengah a sak han oh; prae kami hoi angvin hanah poih sakhaih dan kangvan ah sah paeh, tiah a naa.
14Khi một khách ngoại bang kiều ngụ giữa các ngươi mà muốn giữ lễ Vượt-qua cho Đức Giê-hô-va, thì phải giữ theo lệ định và luật pháp về lễ Vượt-qua. Đồng có một luật lệ cho các ngươi, cho khách ngoại bang, và cho người nào sanh tại trong xứ.
15Kahni im sakhaih niah, hnukung ah kaom, kahni im to tamai mah khuk hmoek; duembang hoi akhawnbang khoek to kahni im ranui ah hmai baktiah amtueng.
15Vả, ngày người ta dựng đền tạm, thì trụ mây bao phủ đền tạm và Trại chứng cớ; ban chiều dường có một vầng lửa ở trên đền tạm cho đến sáng mai.
16To tiah oh poe; athun ah tamai mah khuk moe, aqum ah hmai baktiah amtueng.
16Hằng có như vậy; ban ngày trụ mây bao phủ đền tạm, và ban đêm giống như có lửa.
17Tamai mah kahni im to caehtaak naah, Israel kaminawk kholong caeh o moe, tamai tabok naah, Israel kaminawk mah im to sak o.
17Mỗi khi trụ mây cất lên khỏi Trại, thì dân Y-sơ-ra-ên ra đi; trong nơi nào trụ mây dừng lại, thì dân Y-sơ-ra-ên hạ trại ở đó.
18Angraeng mah paek ih lok baktih toengah, Israel kaminawk kholong caeh o moe, Angraeng mah paek ih lok baktih toengah nihcae mah im to sak o; kahni im nuiah tamai oh nathung, nihcae loe angmacae ih kahni im ah anghak o.
18Dân Y-sơ-ra-ên ra đi theo mạng Đức Giê-hô-va, và hạ trại theo mạng Đức Giê-hô-va. Trọn trong lúc trụ mây ngự trên đền tạm, thì dân Y-sơ-ra-ên cứ đóng trại.
19Kahni im nuiah atue kasawk ah tamai oh naah, Israel kaminawk kholong caeh o ai, Angraeng mah paek ih lok to a zing o.
19Khi nào trụ mây ngự lâu trên đền tạm, thì dân Y-sơ-ra-ên vâng theo mạng Đức Giê-hô-va, chẳng hề ra đi.
20Kahni im nuiah atue setta thung tamai tabok naah loe, Angraeng mah paek ih lok baktih toengah anghak o; to pacoengah Angraeng mah paek ih lok baktih toengah kholong caeh o let.
20Nhưng khi nào trụ mây ngự ít ngày trên đền tạm, thì dân Y-sơ-ra-ên cứ vâng theo mạng Đức Giê-hô-va mà hạ trại và ra đi.
21Duembang hoi akhawnbang khoek to tamai tabok moe, akhawnbang ah tamai van bangah angkhong tahang naah, Israel kaminawk kholong caeh o; khodai ah doeh, khoving ah doeh, tamai angkhong tahang kruek, kholong a caeh o.
21Khi trụ mây ngự tại đó từ buổi chiều đến sáng mai, và khi đến sáng mai trụ mây cất lên, thì ra đi; không cứ ngày hay đêm trụ mây cất lên, thì họ ra đi.
22Kahni im nuiah ni hnetto maw, to tih ai boeh loe khrah to maw, to tih ai boeh loe saningto maw, tamai mah khuk nahaeloe, Israel kaminawk loe tamai oh nathung kholong caeh o mak ai, anghak o tih; toe tamai van ah angkhong tahang nahaeloe, nihcae mah kholong caeh amsak o tih.
22Trụ mây ngự trên đền tạm hoặc hai ngày, hoặc một tháng, hoặc lâu hơn nữa, thì dân Y-sơ-ra-ên cứ đóng trại, không hề ra đi; nhưng khi trụ mây cất lên, thì họ ra đi.
23Angraeng mah paek ih lok baktih toengah, nihcae loe im ah anghak o moe, Angraeng mah paek ih lok baktih toengah, nihcae loe kholong caeh amsak o; Angraeng mah Mosi ban ah paek ih lok baktih toengah, Angraeng ih lok to tahngaih o.
23Dân Y-sơ-ra-ên hạ trại và ra đi tùy theo mạng Đức Giê-hô-va; họ theo chương trình của Đức Giê-hô-va, tùy mạng Ngài đã cậy Môi-se mà truyền cho.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.