Nambar
Chapter 5
Asang Khongca Bible (Eas…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Angraeng mah Mosi khaeah,
1Đoạn, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
2Ngansae man kami, kahoih thai ai takpum nathaih tawn kami hoi kaciim ai kadueh qok sui Israel kaminawk loe ataihaih ahmuen tasa bangah suem ah;
2Hãy biểu dân Y-sơ-ra-ên đuổi ra ngoài trại quân hết thảy người phung, người có bịnh bạch trược, và người vì cớ đụng đến một xác chết nào đã bị ô uế.
3ka ohhaih ahmuen amhnongsak han ai ah, to baktih nathaih tawn kami loe nongpa maw, nongpata maw ohhaih im tasa bangah suem ah, tiah a naa.
3Bất luận nam hay nữ, các ngươi phải đuổi họ ra ngoài trại quân, hầu cho họ không làm cho trại quân bị ô uế, là nơi ta ngự ở trong.
4Angraeng mah Mosi khaeah thuih ih lok baktih toengah, Israel kaminawk mah sak o; to baktih nathaih tawn kami loe ohhaih ahmuen tasa bangah a suek o.
4Dân Y-sơ-ra-ên bèn làm như vậy, đuổi họ ra khỏi trại quân, y như Đức Giê-hô-va đã truyền lịnh cho Môi-se vậy.
5Angraeng mah Mosi khaeah,
5Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:
6Israel kaminawk khaeah hae tiah thui paeh; kaminawk mah sak o ih zaehaih to nongpa mah maw, nongpata mah maw, Angraeng hmaa ah oep om ai ah sak o pazae pongah, to kami to zaehaih tawn nahaeloe,
6Hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên như vầy: Khi một người nam hay nữ phạm một trong những tội người ta thường phạm, cho đến can phạm cùng Đức Giê-hô-va, và vì cớ đó phải mắc tội,
7to kaminawk mah sak o ih zaehaih to taphong han oh; a sakpazae o pongah, a sakpazae o ih kami khaeah ahmuen pangato thungah ahmuen maeto thap ueloe, rong pae boih tih.
7thì người ấy phải xưng tội mình đã phạm ra, và trả tang vật lại đủ, và thêm một phần năm giá vật mà giao cho người mình đã mắc tội cùng.
8Toe kami maeto mah a sakpazae ih hmuen pongah, rong ih hmuen talawkkung om ai nahaeloe, to rong ih hmuen to Angraeng ih hmuen ah suek moe, qaima khaeah paek han oh; to pacoengah anih zaehaih loih thai hanah angbawnhaih sak hanah tuu tae to paek han oh.
8Nếu người nầy không còn, và không bà con nào để lãnh tang vật đó lại, thì vật ấy sẽ về Đức Giê-hô-va, tức là về thầy tế lễ, ngoại trừ con chiên đực về lễ chuộc tội mà thầy tế lễ sẽ dùng đặng chuộc tội cho người mắc tội đó.
9Israel kaminawk mah qaima han sin ih ciimcai hmuennawk boih loe anih ih hmuen ah om tih.
9Phàm lễ vật chi biệt riêng ra thánh mà dân Y-sơ-ra-ên dâng cho thầy tế lễ, đều sẽ thuộc về người.
10Kami boih mah kaciim ah sin ih hmuennawk loe, anih ih hmuen ah om tih; kami mah qaima han paek ih tangqumnawk doeh anih ih hmuen ah om tih, tiah thuih paeh, tiah a naa.
10Những vật biệt riêng ra thánh mà mỗi người dâng sẽ thuộc về người; vật chi mỗi người ban cho thầy tế lễ, chắc sẽ thuộc về người vậy.
11To pacoengah Angraeng mah Mosi khaeah,
11Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:
12Israel kaminawk han hae tiah lokthui paeh; kami maeto ih zu loe oep om ai pongah, loklam amkhraeng ving moe, a sava nuiah zaehaih a sak;
12Hãy nói cho dân Y-sơ-ra-ên rằng: Nếu một người đàn bà lỗi đạo và phạm tội bất chánh cùng chồng,
13kami maeto mah to nongpata to iih haih, toe a sava khaeah thui ai ah angphat; to nongpata loe ciim ai boeh, toe anih hnukung om ai pongah, mi mah doeh a sak ih zaehaih to naeh thai ai,
13nếu có một người nam gian dâm cùng nàng mà việc nhẹm khuất mắt chồng; nếu nàng bị ô uế kín nhiệm, không có chứng cớ đối cùng nàng, và nàng không bị bắt tại trận;
14toe sava mah a zu loe ciim ai boeh, tiah oep vawthaih to tawnh maw, to tih ai boeh loe a zu nuiah palunghaenghaih a tawnh, toe anih ih zu loe amhnonghaih tidoeh om ai to mah a sava mah anih nuiah palunghaenghaih tawn nahaeloe,
14nếu tánh ghen phát nơi người chồng ghen vợ mình, hoặc đã thật bị ô uế, hoặc không có bị ô uế,
15a sava mah a zu to qaima khaeah caeh haih ueloe, barli takaw dip ephah hato thungah maeto a zu ih zae angbawnhaih sak hanah sin tih; takaw dip nuiah situi bawh mak ai, a nuiah hmuihoih doeh thlaek mak ai; to baktih angbawnhaih loe zu nuiah palunghaeng pongah, sak ih angbawnhaih ah oh moe, zaehaih panoek hanah sak ih angbawnhaih ah doeh oh.
15thì người nầy phải dẫn vợ mình đến trước mặt thầy tế lễ, và vì nàng đem theo một phần mười ê-pha bột mạch nha dùng làm của tế lễ. Người chớ nên chế dầu vào, và cũng chẳng nên bỏ nhũ hương lên trên, vì là một của lễ chay về sự ghen tương, một của lễ chay kỷ niệm đặng nhắc tội gian ác.
16Qaima mah to nongpata to caeh haih ueloe, Angraeng hmaa ah angdoesak tih;
16Thầy tế lễ sẽ biểu người nữ đến gần, đứng trước mặt Đức Giê-hô-va.
17to naah qaima mah kaciim tui to long laom thungah lawn ueloe, anih mah kahni imthung ih maiphu to lak pacoengah, tui thungah phuih tih.
17Kế đó thầy tế lễ lấy nước thánh đổ vào chậu đất, hốt bụi ở trên đất của đền tạm mà bỏ trong nước.
18Qaima mah nongpata to Angraeng hmaa ah angdoesak ueloe, nongpata ih lu to khuk pae hmoek tih; nongpata nuiah palunghaeng pongah zaehaih panoek hanah sak ih angbawnhaih takaw dip to a ban ah pasumsak tih; qaima mah tangoenghaih kaomsak thaih tui kakhaa to a ban ah sin tih.
18Đoạn, thầy tế lễ phải biểu người nữ đứng trước mặt Đức Giê-hô-va, lột trần đầu nàng, để của lễ kỷ niệm trên lòng bàn tay nàng, nghĩa là của lễ chay về sự ghen tương; và thầy tế lễ phải có nước đắng giáng rủa sả trong tay mình.
19Qaima mah nongpata to, Kaw baktih nongpa hoiah doeh na iip ai, oep om ai loklam ah doeh nam khraeng ai moe, na sava laep ah kalah nongpa hoiah takpum amhnonghaih to na sah ai nahaeloe, hae ih tangoenghaih kaomsak thaih tui kakhaa hae na nuiah pha hmah nasoe, tiah thui tih.
19Thầy tế lễ phải bắt người nữ thề, và nói cùng nàng rằng: Nếu chẳng một người nam nào nằm cùng ngươi, và nếu đang dưới quyền chồng ngươi không có lỗi đạo và không bị ô uế, thì chẳng phải mắc một điều hại nào của nước đắng giáng rủa sả nầy.
20Toe na sava nuiah oep thok ai ah na oh moe, kalah nongpa hoiah loklam nam khraeng ving; na sava nuiah kalah nongpa hoiah na iih moe, na takpum to amhnong boeh nahaeloe,
20Còn nếu đang dưới quyền chồng, mà ngươi lỗi đạo; nếu ngươi bị ô uế, và nếu một người nào khác hơn chồng đã nằm cùng ngươi
21qaima mah nang loe nangmah ih kaminawk salakah, Angraeng mah na phaih to zaeksak ueloe, na zok doeh bawksak tih, to tiah nang loe tangoenghaih zok kami ah na om tih, tiah nongpata khaeah thuih pae pacoengah, nongpata to tangoenghaih lok akamsak tih;
21bấy giờ thầy tế lễ phải bắt người nữ lấy một lời thề trù ẻo mà thề, và nói cùng nàng rằng: Cầu Đức Giê-hô-va khiến cho ngươi trở nên một mầm rủa sả và trù ẻo giữa vòng dân sự ngươi, làm cho ngươi ốm lòi hông và phình bụng lên;
22tangoenghaih kaomsak hae tui kakhaa hae na zok thungah akun naah, na phaih to zaeksak ueloe, na zok doeh baawk tih, tiah thui pae tih. To naah nongpata mah, Amen, to tiah om nasoe, tiah thui tih.
22nước đắng giáng rủa sả nầy khá chun vào ruột gan làm cho bụng ngươi phình lên và ốm lòi hông. Người nữ sẽ nói rằng: A-men, a-men!
23Hae tangoenghaih lok loe qaima mah cabu thungah tarik ueloe, kakhaa tui hoiah phrae let tih;
23Kế đó, thầy tế lễ phải viết các lời trù ẻo nầy trong một cuốn sách, rồi lấy nước đắng bôi đi.
24qaima mah tangoenghaih kaomsak kakhaa tui to nongpata hanah naesak tih; nongpata ih zok thungah tangoenghaih kaomsak tui kakhaa akun naah, paroeai khaa pae tih.
24Thầy tế lễ sẽ biểu người nữ uống nước đắng giáng rủa sả, nước đắng giáng rủa sả sẽ vào trong mình nàng đặng làm cay đắng cho nàng.
25To pacoengah qaima mah to nongpata ban ah sinsak ih palunghaeng pongah sak ih angbawnhaih takaw dip to la ueloe, Angraeng hmaa ah ahaek pacoengah, hmaicam nuiah suem tih.
25Đoạn, thầy tế lễ sẽ lấy khỏi tay người nữ của lễ chay về sự ghen tương, đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va và dâng lên trên bàn thờ.
26Qaima mah zaehaih panoek han sak ih angbawnhaih takaw dip to ban tangsum maeto la ueloe, hmaicam nuiah hmai hoiah thlaek tih; to pacoengah to tui to nongpata hanah naesak tih.
26Rồi lấy một nắm của lễ chay kỷ niệm và xông trên bàn thờ; kế biểu người nữ uống nước đắng.
27To nongpata mah angmah ih sava nuiah zaehaih to sah moe, ciim ai boeh nahaeloe, tangoenghaih lokkam ih baktih toengah omsakkung tui kakhaa to naek naah, zok thungah tui to paroeai khaa tih; to naah a phaih to zaek ueloe, a zok doeh baawk tih; to naah to nongpata loe angmah ih kaminawk salakah tangoenghaih zok kami ah om tih.
27Vả, khi nào thầy tế lễ biểu người uống nước đắng rồi, nếu quả người có bị ô uế phạm tội bất chánh cùng chồng mình, thì nước đắng giáng rủa sả sẽ vào mình làm cay đắng cho nàng, bụng nàng sẽ phình lên, hông nàng ốm lòi, và người nữ nầy sẽ làm một mầm rủa sả giữa vòng dân sự mình.
28Toe nongpata loe ciimcai moe, amhnonghaih tidoeh om ai nahaeloe, anih loe zaehaih tawn ai pongah, caa sah let tih.
28Còn nếu người nữ không bị ô uế, vẫn thanh sạch, thì nàng sẽ chẳng bị một điều hại nào, và sẽ sanh con.
29Hae loe zu mah oep kaom ai ah, kalah nongpa hoi loklam amkhraeng ving moe, sava nuiah ciimcai ai ah khosak naah maw, palunghaenghaih tawnh naah maw,
29Đó là luật lệ về sự ghen tương khi một người đàn bà, ở dưới quyền chồng mình, lỗi đạo và bị ô uế;
30to tih ai boeh loe nongpa mah a zu nuiah palunghaenghaih tawnh naah maw, patoh ih kaalok ah oh; sava mah a zu nuiah palunghaenghaih tawnh naah, qaima mah nongpata to Angraeng hmaa ah angdoesak ueloe, hae ih kaalok baktih toengah nongpata to lokcaek tih.
30hoặc khi nào tánh ghen phát sanh nơi người chồng mà ghen vợ mình: người phải đem vợ đến trước mặt Đức Giê-hô-va, và thầy tế lễ sẽ làm cho nàng hết thảy điều chi luật lệ nầy truyền dạy.
31To tiah sava loe zaehaih ciim ueloe, nongpata loe a zaehaih pongah danpaekhaih to zok tih, tiah thui paeh, tiah a naa.
31Người chồng sẽ vô tội, còn người đàn bà đó sẽ mang lấy tội mình.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.