Lu 9
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Coptic New Testament (Bohairic)
1Đức Chúa Jêsus nhóm họp mười hai sứ đồ, ban quyền năng phép tắc để trị quỉ chữa bịnh.
1ⲈⲦⲀϤⲘⲞⲨϮ ⲆⲈ ⲈⲠⲒⲒⲂ ⲚⲀⲠⲞⲤⲦⲞⲖⲞⲤ ⲀϤϮϪⲞⲘ ⲚⲰⲞⲨ ⲚⲈⲘ ⲞⲨⲈⲢϢⲒϢⲒ ⲈϨⲢⲎⲒ ⲈϪⲈⲚ ⲚⲒⲆⲈⲘⲰⲚ ⲦⲎⲢⲞⲨ ⲚⲈⲘ ⲚⲒϢⲰⲚⲒ
2Rồi Ngài sai đi rao giảng về nước Đức Chúa Trời cùng chữa lành kẻ có bịnh.
2ⲞⲨⲞϨ ⲀϤⲞⲨⲞⲢⲠⲞⲨ ⲈϨⲒⲰⲒϢ ⲚϮⲘⲈⲦⲞⲨⲢⲞ ⲚⲦⲈⲪⲚⲞⲨϮ ⲞⲨⲞϨ ⲈⲦⲀⲖϬⲞ ⲚⲚⲎ ⲈⲦϢⲰⲚⲒ.
3Ngài dạy rằng: Đi đường chớ đem gì theo hết, hoặc gậy, hoặc bao, hoặc bánh, hoặc tiền bạc; cũng đừng đem hai áo.
3ⲞⲨⲞϨ ⲠⲈϪⲀϤ ⲚⲰⲞⲨ ϪⲈ ⲘⲠⲈⲢⲈⲖ ϨⲖⲒ ⲈⲪⲘⲰⲒⲦ ⲞⲨⲆⲈ ϢⲂⲰⲦ ⲞⲨⲆⲈ ⲠⲎⲢⲀ ⲞⲨⲆⲈ ⲰⲒⲔ ⲞⲨⲆⲈ ϨⲀⲦ ⲞⲨⲆⲈ ⲘⲠⲈⲢⲬⲀ ϢⲐⲎⲚ ⲤⲚⲞⲨϮ ⲚⲦⲈⲚ ⲐⲎⲚⲞⲨ.
4Hễ các ngươi vào nhà nào, hãy ở đó cho đến khi đi.
4ⲞⲨⲞϨ ⲠⲒⲎⲒ ⲈⲦⲈⲦⲈⲚⲚⲀϢⲈ ⲚⲰⲦⲈⲚ ⲈϦⲞⲨⲚ ⲈⲢⲞϤ ϢⲰⲠⲒ ⲘⲘⲀⲨ ϢⲀⲦⲈⲦⲈⲚⲒ ⲈⲂⲞⲖ ⲘⲘⲀⲨ.
5Còn ai không tiếp rước các ngươi, hãy ra khỏi thành họ, và phủi bụi chân mình để làm chứng nghịch cùng họ.
5ⲞⲨⲞϨ ⲚⲎ ⲈⲦⲈⲚⲤⲈⲚⲀϢⲈⲠ ⲐⲎⲚⲞⲨ ⲈⲢⲰⲞⲨ ⲀⲚ ⲈⲢⲈⲦⲈⲚⲚⲎⲞⲨ ⲈⲂⲞⲖ ϦⲈⲚϮⲂⲀⲔⲒ ⲈⲦⲈⲘⲘⲀⲨ ⲚⲈϨ ⲠϢⲰⲒϢ ⲚⲚⲈⲦⲈⲚϬⲀⲖⲀⲨϪ ⲈⲂⲞⲖ ⲈⲨⲘⲈⲦⲘⲈⲐⲢⲈ ⲚⲰⲞⲨ.
6Vậy, các sứ đồ ra đi, từ làng nầy tới làng kia, rao giảng Tin Lành khắp nơi và chữa lành người có bịnh.
6ⲈⲨⲚⲎⲞⲨ ⲆⲈ ⲈⲂⲞⲖ ⲚⲀⲨⲘⲞϢⲦ ⲠⲈ ⲔⲀⲦⲀ ϮⲘⲒ ⲈⲨϨⲒϢⲈⲚⲚⲞⲨϤⲒ ⲞⲨⲞϨ ⲈⲨⲈⲢⲪⲀϦⲢⲒ ϦⲈⲚⲘⲀⲒ ⲚⲒⲂⲈⲚ.
7Bấy giờ, Hê rốt là vua chư hầu, nghe nói về các việc xảy ra, thì không biết nghĩ làm sao; vì kẻ nầy nói rằng: Giăng đã từ kẻ chết sống lại;
7ⲀϤⲤⲰⲦⲈⲘ ⲚϪⲈⲎⲢⲰⲆⲎⲤ ⲠⲒⲦⲈⲦⲢⲀⲀⲢⲬⲎ ⲤⲈϨⲰⲂ ⲚⲒⲂⲈⲚ ⲈⲚⲀⲨϢⲞⲠ ⲞⲨⲞϨ ⲚⲀϤⲞⲒ ⲚϢⲖⲀϨ ⲚϨⲎⲦ ⲈⲐⲂⲈϪⲈ ⲚⲀⲨϪⲰ ⲘⲘⲞⲤ ⲚϪⲈϨⲀⲚⲞⲨⲞⲚ ϪⲈ ⲒⲰⲀⲚⲚⲎⲤ ⲠⲈⲦⲀϤⲦⲰⲚϤ ⲈⲂⲞⲖ ϦⲈⲚⲚⲎ ⲈⲐⲘⲰⲞⲨⲦ.
8kẻ khác nói rằng: Ê-li đã hiện ra; và kẻ khác nữa thì rằng: Một trong các đấng tiên tri đời xưa đã sống lại.
8ϨⲀⲚⲔⲈⲬⲰⲞⲨⲚⲒ ⲆⲈ ϪⲈ ⲎⲖⲒⲀⲤ ⲠⲈⲦⲀϤⲞⲨⲞⲚϨϤ ϨⲀⲚⲔⲈⲬⲰⲞⲨⲚⲒ ⲆⲈ ϪⲈ ⲞⲨⲠⲢⲞⲪⲎⲦⲎⲤ ⲚⲦⲈⲚⲒⲀⲢⲬⲈⲞⲤ ⲠⲈⲦⲀϤⲦⲰⲚϤ.
9Song Hê-rốt thì nói: Ta đã truyền chém Giăng rồi: vậy người nầy là ai, mà ta nghe làm những việc dường ấy? Vua bèn tìm cách thấy Đức Chúa Jêsus.
9ⲠⲈϪⲈ ⲎⲢⲰⲆⲎⲤ ϪⲈ ⲒⲰⲀⲚⲚⲎⲤ ⲀⲚⲞⲔ ⲀⲒⲈⲖ ⲦⲈϤⲚⲀϨⲂⲒ ⲚⲒⲘ ⲆⲈ ⲠⲈ ⲪⲀⲒ ⲈϮⲤⲰⲦⲈⲘ ⲈⲚⲀⲒ ⲘⲠⲀⲒⲢⲎϮ ⲈⲐⲂⲎⲦϤ ⲞⲨⲞϨ ⲚⲀϤⲔⲰϮ ⲠⲈ ⲚⲤⲀⲚⲀⲨ ⲈⲢⲞϤ.
10Các sứ đồ trở về trình cùng Đức Chúa Jêsus mọi việc mình đã làm. Ngài bèn đem các sứ đồ đi tẻ ra với mình đến gần thành kia gọi là Bết-sai-đa.
10ⲞⲨⲞϨ ⲈⲦⲀⲨⲦⲀⲤⲐⲞ ⲚϪⲈⲚⲒⲀⲠⲞⲤⲦⲞⲖⲞⲤ ⲀⲨⲤⲀϪⲒ ϦⲀⲦⲞⲦϤ ⲚⲚⲎ ⲈⲦⲀⲨⲀⲒⲦⲞⲨ ⲞⲨⲞϨ ⲀϤⲞⲖⲞⲨ ⲚⲈⲘⲀϤ ⲀϤϢⲈ ⲚⲀϤ ⲈϦⲞⲨⲚ ⲤⲀⲠⲤⲀ ⲘⲘⲀⲨⲀⲦϤ ⲈⲞⲨⲂⲀⲔⲒ ⲈⲨⲘⲞⲨϮ ⲈⲢⲞⲤ ϪⲈ ⲂⲎⲐⲤⲀⲒⲆⲀ.
11Nhưng dân chúng nghe vậy, thì đi theo Ngài. Đức Chúa Jêsus tiếp đãi dân chúng, giảng cho họ về nước Đức Chúa Trời, và chữa cho những kẻ cần được lành bịnh.
11ⲚⲒⲘⲎϢ ⲆⲈ ⲈⲦⲈⲘⲘⲀⲨ ⲚⲀⲨⲘⲞϢⲒ ⲚⲤⲰϤ ⲞⲨⲞϨ ⲈⲦⲀϤϢⲞⲠⲞⲨ ⲈⲢⲞϤ ⲚⲀϤⲤⲀϪⲒ ⲚⲈⲘⲰⲞⲨ ⲈⲐⲂⲈ ϮⲘⲈⲦⲞⲨⲢⲞ ⲚⲦⲈⲪⲚⲞⲨϮ ⲞⲨⲞϨ ⲚⲎ ⲈⲦⲈⲢⲬⲢⲒⲀ ⲚⲈⲢⲪⲀϦⲢⲒ ⲈⲢⲰⲞⲨ ⲚⲀϤⲦⲀⲖϬⲞ ⲘⲘⲰⲞⲨ ⲠⲈ.
12Khi gần tối, mười hai sứ đồ đến gần Ngài mà thưa rằng: Xin truyền cho dân chúng về, để họ đến các làng các ấp xung quanh mà trọ và kiếm chi ăn; vì chúng ta ở đây là nơi vắng vẻ.
12ⲠⲒⲈϨⲞⲞⲨ ⲆⲈ ⲚⲀϤⲈⲢϨⲎⲦⲤ ⲚⲢⲒⲔⲒ ⲠⲈ ⲈⲦⲀϤⲒ ⲆⲈ ϨⲀⲢⲞϤ ⲚϪⲈⲠⲒⲒⲂ ⲠⲈϪⲰⲞⲨ ⲚⲀϤ ϪⲈ ⲬⲀ ⲚⲒⲘⲎϢ ⲈⲂⲞⲖ ϨⲒⲚⲀ ⲚⲦⲞⲨϢⲈ ⲚⲰⲞⲨ ⲈⲚⲒϮⲘⲒ ⲈⲦⲈ ⲘⲠⲔⲰϮ ⲚⲈⲘ ⲚⲒⲒⲞϨⲒ ⲚⲦⲞⲨⲘⲦⲞⲚ ⲘⲘⲰⲞⲨ ⲞⲨⲞϨ ⲚⲦⲞⲨϪⲈⲘ ⲪⲎ ⲈⲦⲞⲨⲚⲀⲞⲨⲞⲘϤ ϪⲈ ⲦⲈⲚⲬⲎ ⲘⲠⲀⲒⲘⲀ ϦⲈⲚⲞⲨⲘⲀ ⲚϢⲀϤⲈ.
13Song Ngài phán rằng: Chính các ngươi hãy cho họ ăn. Các sứ đồ thưa rằng: Ví thử chính mình chúng tôi không đi mua đồ ăn cho hết thảy dân nầy, thì chỉ có năm cái bánh và hai con cá mà thôi.
13ⲠⲈϪⲀϤ ⲆⲈ ⲚⲰⲞⲨ ϪⲈ ⲘⲞⲒ ⲚⲰⲞⲨ ⲚⲐⲰⲦⲈⲚ ⲈⲐⲢⲞⲨⲞⲨⲰⲘ ⲚⲐⲰⲞⲨ ⲆⲈ ⲠⲈϪⲰⲞⲨ ϪⲈ ⲘⲘⲞⲚ ϨⲞⲨⲞ ⲈⲈ ⲚⲰⲒⲔ ⲚⲦⲞⲦⲈⲚ ⲚⲈⲘ ⲦⲈⲂⲦ ⲂⲈⲂⲎⲖ ⲀⲚⲞⲚ ⲚⲦⲈⲚϢⲈ ⲚⲀⲚ ⲚⲦⲈⲚϢⲰⲠ ⲚϨⲀⲚϦⲢⲎⲞⲨⲒ ⲘⲠⲀⲒⲖⲀⲞⲤ ⲦⲎⲢϤ.
14Vả, bấy giờ có độ năm ngàn người nam ở đó. Ngài bèn phán cùng môn đồ rằng: Hãy biểu chúng ngồi từng hàng năm mươi người.
14ⲚⲀⲨⲞⲒ ⲆⲈ ⲚⲀⲨ ⲈⲚϢⲞ ⲚⲢⲰⲘⲒ ⲀϤϪⲞⲤ ⲆⲈ ⲚⲚⲈϤⲘⲀⲐⲎⲦⲎⲤ ϪⲈ ⲘⲀⲢⲞⲨⲢⲰⲦⲈⲂ ⲔⲀⲦⲀ ⲘⲀ ⲚϨⲀⲚⲚ ⲈⲪⲘⲀ.
15Môn đồ làm theo lời; chúng ngồi xuống hết thảy.
15ⲞⲨⲞϨ ⲀⲨⲒⲢⲒ ⲘⲠⲀⲒⲢⲎϮ ⲀϤⲐⲢⲞⲨⲢⲰⲦⲈⲂ ⲦⲎⲢⲞⲨ.
16Đoạn, Đức Chúa Jêsus lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, chúc tạ, rồi bẻ ra trao cho môn đồ, đặng phát cho đoàn dân.
16ⲈⲦⲀϤϬⲒ ⲆⲈ ⲘⲠⲒⲈ ⲚⲰⲒⲔ ⲚⲈⲘ ⲠⲒⲦⲈⲂⲦ ⲂⲈⲦⲀϤⲤⲞⲘⲤ ⲈϨⲢⲎⲒ ⲈⲦⲪⲈ ⲀϤⲤⲘⲞⲨ ⲈⲢⲰⲞⲨ ⲞⲨⲞϨ ⲀϤⲪⲀϢⲞⲨ ⲞⲨⲞϨ ⲀϤϮ ⲚⲚⲒⲘⲀⲐⲎ ⲦⲎⲤ ⲈⲐⲢⲞⲨⲬⲰ ϦⲀⲢⲰⲞⲨ ⲘⲠⲒⲘⲎϢ.
17Ai nấy ăn no rồi, người ta thâu được mười hai giỏ đầy những miếng thừa.
17ⲞⲨⲞϨ ⲀⲨⲞⲨⲰⲘ ⲞⲨⲞϨ ⲀⲨⲤⲒ ⲦⲎⲢⲞⲨ ⲞⲨⲞϨ ⲀⲨⲰⲖⲒ ⲘⲪⲎ ⲈⲦⲀϤⲈⲢϨⲞⲨⲞ ⲈⲢⲰⲞⲨ ⲒⲂ ⲚⲔⲞⲦ ⲚⲖⲀⲔϨ ⲈⲨⲘⲞϨ.
18Một ngày kia, Đức Chúa Jêsus đang cầu nguyện riêng, môn đồ nhóm lại xung quanh Ngài, Ngài hỏi rằng: Trong dân chúng, họ nói ta là ai?
18ⲞⲨⲞϨ ⲀⲤϢⲰⲠⲒ ⲈϤⲬⲎ ⲤⲀⲠⲤⲀ ⲘⲘⲀⲨⲀⲦϤ ⲈϤⲈⲢⲠⲢⲞⲤⲈⲨⲬⲈⲤⲐⲈ ⲚⲀⲨⲬⲎ ⲚⲈⲘⲀϤ ⲠⲈ ⲚϪⲈⲚⲒⲘⲀⲐⲎⲦⲎⲤ ⲞⲨⲞϨ ⲀϤϢⲈⲚⲞⲨ ⲈϤϪⲰ ⲘⲘⲞⲤ ϪⲈ ⲀⲢⲈ ⲚⲒⲢⲰⲘⲒ ϪⲰ ⲘⲘⲞⲤ ϪⲈ ⲀⲚⲞⲔ ⲚⲒⲘ.
19Thưa rằng: Người nầy nói là Giăng Báp-tít, người kia nói là Ê-li; kẻ khác nói là một trong các đấng tiên tri đời xưa sống lại.
19ⲚⲐⲰⲞⲨ ⲆⲈ ⲀⲨⲈⲢⲞⲨⲰ ⲠⲈϪⲰⲞⲨ ϪⲈ ⲒⲰⲀⲚⲚⲎⲤ ⲠⲒⲢⲈϤϮⲰⲘⲤ ϨⲀⲚⲔⲈⲬⲰⲞⲨⲚⲒ ⲆⲈ ϪⲈ ⲎⲖⲒⲀⲤ ϨⲀⲚⲔⲈⲬⲰⲞⲨⲚⲒ ⲆⲈ ϪⲈ ⲞⲨⲠⲢⲞⲪⲎⲦⲎⲤ ⲚⲦⲈⲚⲒⲀⲢⲬⲈⲞⲤ ⲠⲈ ⲈⲦⲀϤⲦⲰⲚϤ.
20Ngài lại hỏi rằng: Còn về phần các ngươi thì nói ta là ai? Phi-e-rơ thưa rằng: Thầy là Đấng Christ của Đức Chúa Trời.
20ⲠⲈϪⲀϤ ⲆⲈ ⲚⲰⲞⲨ ϪⲈ ⲚⲐⲰⲦⲈⲚ ⲆⲈ ⲀⲢⲈⲦⲈⲚϪⲰ ⲘⲘⲞⲤ ϪⲈ ⲀⲚⲞⲔ ⲚⲒⲘ ⲠⲈⲦⲢⲞⲤ ⲆⲈ ⲀϤⲈⲢⲞⲨⲰ ⲠⲈϪⲀϤ ϪⲈ ⲚⲐⲞⲔ ⲠⲈ ⲠⲬⲢⲒⲤⲦⲞⲤ ⲪⲚⲞⲨϮ.
21Đức Chúa Jêsus nghiêm cấm môn đồ nói sự ấy với ai,
21ⲚⲐⲞϤ ⲆⲈ ⲈⲦⲀϤⲈⲢⲈⲠⲒⲦⲒⲘⲀⲚ ⲚⲰⲞⲨ ⲀϤϨⲞⲚϨⲈⲚ ⲈϢⲦⲈⲘϪⲈ ⲪⲀⲒ ⲚϨⲖⲒ
22và phán thêm rằng: Con người phải chịu nhiều điều khốn khổ, phải bị các trưởng lão, các thầy tế lễ cả, và các thầy thông giáo bỏ ra, phải bị giết, ngày thứ ba phải sống lại.
22ⲈⲀϤϪⲞⲤ ϪⲈ ϨⲰϮ ⲠⲈ ⲚⲦⲈⲠϢⲎⲢⲒ ⲘⲪⲢⲰⲘⲒ ϬⲒ ⲞⲨⲘⲎϢ ⲚϦⲒⲤⲒ ⲞⲨⲞϨ ⲚⲦⲞⲨϢⲞϢϤ ⲚϪⲈⲚⲒⲠⲢⲈⲤⲂⲨⲦⲈⲢⲞⲤ ⲚⲈⲘ ⲚⲒⲀⲢⲬⲒⲈⲢⲈⲨⲤ ⲚⲈⲘ ⲚⲒⲤⲀϦ ⲞⲨⲞϨ ⲚⲦⲞⲨϦⲞⲐⲂⲈϤ ⲞⲨⲞϨ ⲚⲦⲈϤⲦⲰⲚϤ ϦⲈⲚⲠⲒⲘⲀϨⲄ ⲚⲈϨⲞⲞⲨ.
23Đoạn, Ngài phán cùng mọi người rằng: Nếu ai muốn theo ta, phải tự bỏ mình đi, mỗi ngày vác thập tự giá mình mà theo ta.
23ⲚⲀϤϪⲰ ⲆⲈ ⲘⲘⲞⲤ ⲚⲞⲨⲞⲚ ⲚⲒⲂⲈⲚ ϪⲈ ⲪⲎ ⲈⲐⲚⲀⲞⲨⲰϢ ⲈⲞⲨⲀϨϤ ⲚⲤⲰⲒ ⲘⲀⲢⲈϤϪⲞⲖϤ ⲈⲂⲞⲖ ⲞⲨⲞϨ ⲘⲀⲢⲈϤⲰⲖⲒ ⲘⲠⲈϤⲤⲦⲀⲨⲢⲞⲤ ⲘⲘⲎ ⲚⲒ ⲞⲨⲞϨ ⲚⲦⲈϤⲘⲞϢⲒ ⲚⲤⲰⲒ.
24Vì ai muốn cứu sự sống mình thì sẽ mất, còn ai vì cớ ta mất sự sống, thì sẽ cứu.
24ⲪⲎ ⲄⲀⲢ ⲈⲐⲞⲨⲰϢ ⲈⲚⲞϨⲈⲘ ⲚⲦⲈϤⲮⲨⲬⲎ ϤⲚⲀⲦⲀⲔⲞⲤ ⲪⲎ ⲆⲈ ⲈⲐⲚⲀⲦⲀⲔⲞ ⲚⲦⲈϤⲮⲨⲬⲎ ⲈⲐⲂⲎⲦ ⲈϤⲈⲚⲀϨⲘⲈⲤ.
25Nếu ai được cả thiên hạ, mà chính mình phải mất hoặc hư đi, thì có ích gì?
25ⲞⲨ ⲄⲀⲢ ⲈⲢⲈ ⲠⲒⲢⲰⲘⲒ ⲚⲀϪⲈⲘϨⲎⲞⲨ ⲘⲘⲞϤ ⲀϤϢⲀⲚϪⲈⲘϨⲎⲞⲨ ⲘⲠⲒⲔⲞⲤⲘⲞⲤ ⲦⲎⲢϤ ⲚⲐⲞϤ ⲆⲈ ⲚⲦⲈϤⲦⲀⲔⲞϤ ⲘⲘⲀⲨⲀⲦϤ ⲒⲈ ⲚⲦⲈϤϮⲞⲤⲒ ⲘⲘⲞϤ.
26Vì nếu ai hổ thẹn về ta và lời ta, thì Con người sẽ hổ thẹn về họ, khi Ngài ngự trong sự vinh hiển của mình, của Cha, và của thiên sứ thánh mà đến.
26ⲪⲎ ⲄⲀⲢ ⲈⲐⲚⲀϢⲒⲠⲒ ϦⲀⲦϨⲎ ⲚⲈⲘ ⲚⲀⲤⲀϪⲒ ⲪⲀⲒ ϨⲰϤ ⲠϢⲎⲢⲒ ⲘⲪⲢⲰⲘⲒ ⲚⲀϮϢⲒⲠⲒ ⲚⲀϤ ⲈϢⲰⲠ ⲀϤϢⲀⲚⲒ ϦⲈⲚⲠⲈϤⲰⲞⲨ ⲚⲈⲘ ⲪⲀ ⲠⲈϤⲒⲰⲦ ⲚⲈⲘ ⲚⲈϤⲀⲄⲄⲈⲖⲞⲤ ⲈⲐⲞⲨⲀⲂ.
27Quả thật, ta nói cùng các ngươi, một vài người trong các ngươi đang đứng đây sẽ không chết trước khi chưa thấy nước Đức Chúa Trời.
27ϮϪⲰ ⲘⲘⲞⲤ ⲚⲰⲦⲈⲚ ⲦⲀⲪⲘⲎⲒ ϪⲈ ⲞⲨⲞⲚ ϨⲀⲚⲞⲨⲞⲚ ϦⲈⲚⲚⲎ ⲈⲦⲞϨⲒ ⲈⲢⲀⲦⲞⲨ ⲘⲠⲀⲒⲘⲀ ⲚⲎ ⲈⲦⲈⲚⲤⲈⲚⲀϪⲈⲘϮⲠⲒ ⲘⲪⲘⲞⲨ ⲀⲚ ϢⲀⲦⲞⲨⲚⲀⲨ ⲈϮⲘⲈⲦⲞⲨⲢⲞ ⲚⲦⲈⲪⲚⲞⲨϮ.
28Độ tám ngày sau khi phán các lời đó, Đức Chúa Jêsus đem Phi-e-rơ, Giăng và Gia-cơ đi với mình lên trên núi để cầu nguyện.
28ⲀⲤϢⲰⲠⲒ ⲆⲈ ⲘⲈⲚⲈⲚⲤⲀ ⲚⲀⲒⲤⲀϪⲒ ⲚⲀⲨ ⲎⲚⲈϨⲞⲞⲨ ⲀϤⲰⲖⲒ ⲘⲠⲈⲦⲢⲞⲤ ⲚⲈⲘ ⲒⲀⲔⲰⲂⲞⲤ ⲚⲈⲘ ⲒⲰⲀⲚⲚⲎⲤ ⲀϤϢⲈ ⲚⲀϤ ⲈϨⲢⲎⲒ ⲈϪⲈⲚ ⲠⲒⲦⲰⲞⲨ ⲈⲈⲢⲠⲢⲞⲤⲈⲨⲬⲈⲤⲐⲈ
29Đang khi cầu nguyện, diện mạo Ngài khác thường, áo Ngài trở nên sắc trắng chói lòa.
29ⲞⲨⲞϨ ⲀⲤϢⲰⲠⲒ ϦⲈⲚⲠϪⲒⲚⲐⲢⲈϤⲈⲢⲠⲢⲞⲤⲈⲨⲬ ⲈⲤⲐⲈ ⲀϤϢⲰⲂⲦ ⲚϪⲈⲠⲀⲞⲨⲀⲚ ⲚⲦⲈⲠⲈϤϨⲞ ⲞⲨⲞϨ ⲠⲈϤϬⲒϨⲂⲞⲤ ⲀϤⲞⲨⲂⲀϢ ⲘⲪⲢⲎϮ ⲚⲚⲈϤϨⲒⲤⲈⲦⲈⲂⲢⲎϪ ⲈⲂⲞⲖ.
30Và nầy, có hai người nói chuyện cùng Ngài; ấy là Môi-se và Ê-li,
30ⲞⲨⲞϨ ϨⲎⲠⲠⲈ ⲒⲤ ⲢⲰⲘⲒ ⲂⲚⲀⲨⲤⲀϪⲒ ⲚⲈⲘⲀϤ ⲈⲦⲈ ⲘⲰⲨⲤⲎⲤ ⲠⲈ ⲚⲈⲘ ⲎⲖⲒⲀⲤ
31hiện ra trong sự vinh hiển, và nói về sự Ngài qua đời, là sự sẽ phải ứng nghiệm tại thành Giê-ru-sa-lem.
31ⲚⲎ ⲈⲦⲀⲨⲞⲨⲞⲚϨⲞⲨ ϦⲈⲚⲞⲨⲰⲞⲨ ⲚⲀⲨⲤⲀϪⲒ ⲘⲠⲈϤⲘⲰⲒⲦ ⲈⲂⲞⲖ ⲪⲎ ⲈⲚⲀϤⲚⲀϪⲞⲔϤ ⲈⲂⲞⲖ ϦⲈⲚⲒⲈⲢⲞⲤⲀⲖⲎⲘ.
32Phi-e-rơ cùng đồng bạn mình buồn ngủ lắm, nhưng vừa tỉnh thức ra, thấy vinh hiển của Đức Chúa Jêsus và hai đấng ấy đứng gần Ngài.
32ⲠⲈⲦⲢⲞⲤ ⲆⲈ ⲚⲈⲘ ⲚⲎ ⲈⲐⲚⲈⲘⲀϤ ⲚⲈⲀⲨϨⲢⲞϢ ⲚϨⲒⲚⲒⲘ ⲠⲈ ⲈⲦⲀⲨⲈⲢϢⲢⲰⲒⲤ ⲆⲈ ⲀⲨⲚⲀⲨ ⲈⲠⲈϤⲰⲞⲨ ⲚⲈⲘ ⲠⲒⲢⲰⲘⲒ ⲂⲚⲎ ⲈⲚⲀⲨⲞϨⲒ ⲈⲢⲀⲦⲞⲨ ⲚⲈⲘⲀϤ.
33Lúc hai đấng ấy lìa khỏi Đức Chúa Jêsus, Phi-e-rơ thưa Ngài rằng: Thưa thầy, chúng ta ở đây tốt lắm, hãy đóng ba trại, một cái cho thầy, một cái cho Môi-se và một cái cho Ê-li. Vì Phi-e-rơ không biết mình nói chi.
33ⲞⲨⲞϨ ⲀⲤϢⲰⲠⲒ ⲈⲨⲚⲀⲪⲰⲢϪ ⲈⲂⲞⲖ ⲘⲘⲞϤ ⲠⲈϪⲈ ⲠⲈⲦⲢⲞⲤ ⲚⲒⲎⲤⲞⲨⲤ ϪⲈ ⲠⲒⲢⲈϤϮⲤⲂⲰ ⲚⲀⲚⲈⲤ ⲚⲀⲚ ⲚⲦⲈⲚϢⲰⲠⲒ ⲘⲠⲀⲒⲘⲀ ⲞⲨⲞϨ ⲒⲤϪⲈ ⲬⲞⲨⲰϢ ⲚⲦⲈⲚⲐⲀⲘⲒⲞ ⲚⲄϮ ⲚⲤⲔⲨⲚⲎ ⲞⲨⲒ ⲚⲀⲔ ⲚⲈⲘ ⲞⲨⲒ ⲘⲘⲰⲨⲤⲎⲤ ⲞⲨⲞϨ ⲞⲨⲒ ⲚⲎⲖⲒⲀⲤ ⲘϤⲈⲘⲒ ⲀⲚ ⲈⲠⲈⲦⲀϤϪⲰ ⲘⲘⲞϤ.
34Khi người còn đang nói, có một đám mây kéo đến, bao phủ lấy; và khi vào trong đám mây, các môn đồ đều sợ hãi.
34ⲚⲀⲒ ⲆⲈ ⲈϤϪⲰ ⲘⲘⲰⲞⲨ ⲀⲤϢⲰⲠⲒ ⲚϪⲈⲞⲨϬⲎⲠⲒ ⲞⲨⲞϨ ⲀⲤⲈⲢϦⲎⲒⲂⲒ ⲈϪⲰⲞⲨ ⲀⲨⲈⲢϨⲞϮ ⲆⲈ ⲈⲦⲀⲨϢⲈ ⲚⲰⲞⲨ ⲈϦⲞⲨⲚ ⲈϮϬⲎⲠⲒ.
35Bấy giờ, nghe có tiếng từ trong đám mây phán ra rằng: Nầy là Con ta, Người được lựa chọn của ta, hãy nghe Người.
35ⲞⲨⲞϨ ⲞⲨⲤⲘⲎ ⲀⲤϢⲰⲠⲒ ⲈⲂⲞⲖ ϦⲈⲚϮϬⲎⲠⲒ ⲈⲤϪⲰ ⲘⲘⲞⲤ ϪⲈ ⲪⲀⲒ ⲠⲈ ⲠⲀϢⲎⲢⲒ ⲈⲦⲤⲞⲦⲠ ⲤⲰⲦⲈⲘ ⲚⲤⲰϤ.
36Khi tiếng ấy phát ra, thì Đức Chúa Jêsus ở một mình. Các môn đồ nín lặng, không nói cùng ai về sự mình đã thấy.
36ⲞⲨⲞϨ ⲈⲦⲀⲤϢⲰⲠⲒ ⲚϪⲈϮⲤⲘⲎ ⲒⲎⲤⲞⲨⲤ ⲘⲘⲀⲨⲀⲦϤ ⲠⲈⲦⲀⲨϪⲈⲘϤ ⲞⲨⲞϨ ⲚⲐⲰⲞⲨ ⲀⲨⲬⲀⲢⲰⲞⲨ ⲞⲨⲞϨ ⲘⲠⲞⲨⲦⲀⲘⲈ ϨⲖⲒ ϦⲈⲚⲚⲒⲈϨⲞⲞⲨ ⲈⲦⲈⲘⲘⲀⲨ ⲈϨⲖⲒ ⲚⲚⲎ ⲈⲦⲀⲨⲚⲀⲨ ⲈⲢⲰⲞⲨ.
37Bữa sau, khi Chúa cùng môn đồ từ núi xuống, có đoàn dân đông đến đón rước Ngài.
37ⲀⲤϢⲰⲠⲒ ⲆⲈ ⲈⲠⲈϤⲢⲀⲤϮ ⲈⲦⲀⲨⲒ ⲈϦⲢⲎⲒ ⲈⲂⲞⲖ ϨⲒ ⲠⲒⲦⲰⲞⲨ ⲀⲨⲒ ⲈⲂⲞⲖ ϨⲀⲢⲞϤ ⲚϪⲈⲞⲨⲚⲒϢϮ ⲘⲘⲎϢ.
38Một người trong đám đông kêu lên rằng: Lạy thầy, xin thầy đoái đến con trai tôi, vì là con một tôi.
38ⲞⲨⲞϨ ϨⲎⲠⲠⲈ ⲒⲤ ⲞⲨⲢⲰⲘⲒ ⲈⲂⲞⲖ ϦⲈⲚⲠⲒⲘⲎϢ ⲀϤⲰϢ ⲈⲂⲞⲖ ϪⲈ ⲠⲒⲢⲈϤϮⲤⲂⲰ ϮϮϨⲞ ⲈⲢⲞⲔ ϪⲞⲨϢⲦ ⲈⲠⲀϢⲎⲢⲒ ϪⲈ ⲞⲨϢⲎⲢⲒ ⲘⲘⲀⲨⲀⲦϤ ⲚⲎⲒ ⲠⲈ
39Một quỉ ám nó, thình lình kêu la; quỉ vật vã nó dữ tợn, làm cho sôi bọt miếng, mình mẩy nát hết, rồi mới ra khỏi.
39ⲞⲨⲞϨ ϨⲎⲠⲠⲈ ϤⲚⲎⲞⲨ ⲈϪⲰϤ ⲚϪⲈⲞⲨⲠⲚⲈⲨⲘⲀⲞⲨⲞϨ ⲚⲞⲨϨⲞϮ ϦⲈⲚⲞⲨϨⲞϮ ϤⲰϢ ⲈⲂⲞⲖ ⲞⲨⲞϨ ϤϢⲐⲞⲢⲦⲈⲢ ⲘⲘⲞϤ ⲞⲨⲞϨ ϤⲢⲰϦⲦ ⲘⲘⲞϤ ⲈϦⲢⲎⲒ ⲞⲨⲞϨ ⲢⲰϤ ϪⲈϢ ⲤⲪⲎⲒϮ ⲈⲂⲞⲖ ⲞⲨⲞϨ ⲘⲞⲄⲒⲤ ϢⲀϤϢⲈ ⲚⲀϤ ⲈⲂⲞⲖ ϨⲀⲢⲞϤ ⲈϤϦⲞⲘϦⲈⲘ ⲘⲘⲞϤ.
40Tôi đã xin môn đồ thầy đuổi quỉ đó, nhưng họ đuổi không được.
40ⲞⲨⲞϨ ⲀⲒϮϨⲞ ⲈⲚⲈⲔⲘⲀⲐⲎⲦⲎⲤ ϨⲒⲚⲀ ⲚⲦⲞⲨϨⲒⲦϤ ⲈⲂⲞⲖ ⲞⲨⲞϨ ⲘⲠⲞⲨϢϪⲈⲘϪⲞⲘ.
41Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Hỡi dòng dõi không tin và bội nghịch kia, ta ở với các ngươi và nhịn các ngươi cho đến chừng nào? Hãy đem con của ngươi lại đây.
41ⲀϤⲈⲢⲞⲨⲰ ⲚϪⲈⲒⲎⲤⲞⲨⲤ ⲞⲨⲞϨ ⲠⲈϪⲀϤ ϪⲈ ⲰⲠⲒϪⲰⲞⲨ ⲚⲀⲐⲚⲀϨϮ ⲞⲨⲞϨ ⲈⲦⲪⲞⲚϨ ϢⲀ ⲐⲚⲀⲨ ϮⲚⲀϢⲰⲠⲒ ⲚⲈⲘⲰⲦⲈⲚ ⲞⲨⲞϨ ⲚⲦⲀⲈⲢⲀⲚⲈⲬ ⲈⲤⲐⲈ ⲘⲘⲰⲦⲈⲚ ⲀⲚⲒ ⲠⲈⲔϢⲎⲢⲒ ⲚⲎⲒ ⲘⲚⲀⲒ.
42Đứa con trai vừa lại gần, quỉ xô nó nhào xuống đất, và vật vã dữ tợn. Song Đức Chúa Jêsus quở nặng tà ma, chữa lành con trẻ ấy, và giao lại cho cha nó.
42ⲈⲦⲒ ⲈϤⲚⲎⲞⲨ ⲈϦⲞⲨⲚ ϨⲀⲢⲞϤ ⲀϤⲢⲀϦⲦϤ ⲈϦⲢⲎⲒ ⲚϪⲈⲠⲒⲆⲈⲘⲰⲚ ⲞⲨⲞϨ ⲀϤϢⲦⲈⲢⲐⲰⲢϤ ⲒⲎⲤⲞⲨⲤ ⲆⲈ ⲀϤⲈⲢⲈⲠⲒⲦⲒⲘⲀⲚ ⲘⲠⲒⲆⲈⲘⲰⲚ ⲚⲀⲔⲀⲐⲀⲢⲦⲞⲚ ⲞⲨⲞϨ ⲀϤⲦⲞⲨϪⲈ ⲠⲒⲀⲖⲞⲨ ⲞⲨⲞϨ ⲀϤⲦⲎⲒϤ ⲈⲠⲈϤⲒⲰⲦ
43Ai nấy đều lấy làm lạ về quyền phép cao trọng của Đức Chúa Trời. Khi mọi người đang khen lạ các việc Đức Chúa Jêsus làm, Ngài phán cùng môn đồ rằng:
43ⲚⲀϤⲈⲢϢⲪⲎⲢⲒ ⲦⲎⲢⲞⲨ ⲈϪⲈⲚ ϮⲘⲈⲐⲚⲒϢϮ ⲚⲦⲈⲪⲚⲞⲨϮ ⲈⲨⲈⲢϢⲪⲎⲢⲒ ⲆⲈ ⲚϪⲈⲞⲨⲞⲚ ⲚⲒⲂⲈⲚ ⲈϨⲢⲎⲒ ⲈϪⲈⲚ ϨⲰⲂ ⲚⲒⲂⲈⲚ ⲈⲚⲀϤⲒⲢⲒ ⲘⲘⲰⲞⲨ ⲠⲈϪⲀϤ ⲚⲚⲈϤⲘⲀⲐⲎⲦⲎⲤ
44Về phần các ngươi, hãy nghe kỹ điều ta sẽ nói cùng: Con người sẽ bị nộp trong tay người ta.
44ϪⲈ ⲚⲐⲰⲦⲈⲚ ⲬⲀ ⲚⲀⲒⲤⲀϪⲒ ϦⲈⲚⲚⲈⲦⲈⲚⲘⲀϢϪ ⲠϢⲎⲢⲒ ⲄⲀⲢ ⲘⲪⲢⲰⲘⲒ ⲤⲈⲚⲀⲦⲎⲒϤ ⲈϦⲢⲎⲒ ⲈⲚⲈⲚϪⲒϪ ⲚϨⲀⲚⲢⲰⲘⲒ.
45Nhưng các môn đồ không hiểu lời ấy, vì đã che khuất cho mình để chẳng rõ nghĩa làm sao; và sợ không dám hỏi Ngài về lời ấy.
45ⲚⲐⲰⲞⲨ ⲆⲈ ⲚⲀⲨⲰⲂϢ ⲈⲠⲀⲒⲤⲀϪⲒ ⲠⲈ ⲞⲨⲞϨ ⲚⲀϤϨⲎⲠ ⲈⲢⲰⲞⲨ ⲠⲈ ⲞⲨⲞϨ ϨⲒⲚⲀ ⲚⲦⲞⲨϢⲦⲈⲘⲔⲀϮ ⲈⲢⲞϤ ⲚⲀⲨⲈⲢϨⲞϮ ⲈϢⲈⲚϤ ⲠⲈ ⲈⲐⲂⲈ ⲠⲀⲒⲤⲀϪⲒ.
46Các môn đồ biện luận cùng nhau cho biết ai là lớn hơn hết trong hàng mình.
46ⲀϤⲒ ⲆⲈ ⲈϦⲞⲨⲚ ⲈⲢⲰⲞⲨ ⲚϪⲈⲞⲨⲘⲞⲔⲘⲈⲔ ϪⲈ ⲚⲒⲘ ⲘⲘⲰⲞⲨ ⲠⲈ ⲠⲒⲚⲒϢϮ.
47Nhưng Đức Chúa Jêsus biết ý tưởng trong lòng môn đồ, thì lấy một đứa con trẻ để gần mình,
47ⲒⲎⲤⲞⲨⲤ ⲆⲈ ⲈⲦⲀϤⲚⲀⲨ ⲈⲠⲒⲘⲞⲔⲘⲈⲔ ⲚⲦⲈⲠⲞⲨϨⲎⲦ ⲀϤⲀⲘⲞⲚⲒ ⲚⲞⲨⲀⲖⲞⲨ ⲀϤⲦⲀϨⲞϤ ⲈⲢⲀⲦϤ ϦⲀⲦⲞⲦϤ
48mà phán rằng: Hễ ai vì danh ta mà tiếp con trẻ nầy, tức là tiếp ta; còn ai tiếp ta, tức là tiếp Đấng đã sai ta. Vì kẻ nào hèn mọn hơn hết trong vòng các ngươi, ấy chính người đó là kẻ cao trọng.
48ⲞⲨⲞϨ ⲠⲈϪⲀϤ ⲚⲰⲞⲨ ϪⲈ ⲪⲎ ⲈⲐⲚⲀϢⲈⲠ ⲠⲀⲒⲀⲖⲞⲨ ⲈⲢⲞϤ ϦⲈⲚⲠⲀⲢⲀⲚ ⲀⲚⲞⲔ ⲠⲈⲦⲀϤϢⲰⲠ ⲘⲘⲞⲒ ⲞⲨⲞϨ ⲪⲎ ⲈⲦϢⲰⲠ ⲘⲘⲞⲒ ⲀϤϢⲰⲠ ⲘⲪⲎ ⲈⲦⲀϤⲦⲀⲞⲨⲞⲒ ⲪⲎ ⲄⲀⲢ ⲈⲦⲞⲒ ⲚⲔⲞⲨϪⲒ ϦⲈⲚⲐⲎⲚⲞⲨ ⲦⲎⲢⲞⲨ ⲪⲀⲒ ⲠⲈ ⲠⲒⲚⲒϢϮ.
49Giăng cất tiếng nói rằng: Thưa thầy, chúng tôi từng thấy có kẻ nhân danh thầy mà trừ quỉ; chúng tôi đã cấm họ, vì không cùng chúng tôi theo thầy.
49ⲀϤⲈⲢⲞⲨⲰ ⲆⲈ ⲚϪⲈⲒⲰⲀⲚⲚⲎⲤ ϪⲈ ⲠⲒⲢⲈϤϮⲤⲂⲰ ⲀⲚⲚⲀⲨ ⲈⲞⲨⲀⲒ ⲈϤϨⲒ ⲆⲈⲘⲰⲚ ⲈⲂⲞⲖ ϦⲈⲚⲠⲈⲔⲢⲀⲚ ⲞⲨⲞϨ ⲀⲚⲦⲀϨⲚⲞ ⲘⲘⲞϤ ϪⲈ ϤⲘⲞϢⲒ ⲚⲈⲘⲀⲚ ⲀⲚ.
50Nhưng Đức Chúa Jêsus phán rằng: Đừng cấm họ, vì ai không nghịch cùng các ngươi, là thuận với các ngươi.
50ⲒⲎⲤⲞⲨⲤ ⲆⲈ ⲠⲈϪⲀϤ ϪⲈ ⲘⲠⲈⲢⲦⲀϨⲚⲞ ⲞⲨ ⲄⲀⲢ ϤϮ ⲀⲚ ⲞⲨⲂⲈ ⲐⲎⲚⲞⲨ ⲪⲎ ⲄⲀⲢ ⲈⲦⲈⲚϤϮ ⲞⲨⲂⲈ ⲐⲎⲚⲞⲨ ⲀⲚ ⲀϤϮ ϨⲒ ⲐⲎⲚⲞⲨ.
51Khi gần đến k” Đức Chúa Jêsus được đem lên khỏi thế gian, Ngài quyết định đi thành Giê-ru-sa-lem.
51ⲀⲤϢⲰⲠⲒ ⲆⲈ ⲈⲦⲀⲨϪⲰⲔ ⲈⲂⲞⲖ ⲚϪⲈⲚⲒⲈϨⲞⲞⲨ ⲚⲦⲈⲦⲈϤⲀⲚⲀⲖⲨⲘⲮⲒⲤ ⲞⲨⲞϨ ⲚⲐⲞϤ ⲀϤⲤⲈⲘⲚⲈ ⲠⲈϤϨⲞ ⲈϢⲈ ⲈⲒⲖⲎⲘ
52Ngài sai kẻ đem tin đi trước mình. Họ ra đi, vào một làng của người Sa- ma-ri, để sửa soạn nhà trọ cho Ngài;
52ⲞⲨⲞϨ ⲀϤⲞⲨⲰⲢⲠ ⲚϨⲀⲚⲢⲈⲘⲚϨⲰⲂ ⲈⲂⲞⲖ ϦⲀϪⲰϤ ⲞⲨⲞϨ ⲈⲦⲀⲨϢⲈ ⲀⲨⲒ ⲈϦⲞⲨⲚ ⲈⲞⲨϮⲘⲒ ⲚⲦⲈⲚⲒⲤⲀⲘⲀⲢⲒⲦⲎⲤ ϨⲰⲤⲦⲈ ⲈⲤⲞⲂϮ ⲚⲀϤ
53song người Sa-ma-ri không tiếp rước Ngài, vì Ngài đi thẳng lên thành Giê- ru-sa-lem.
53ⲞⲨⲞϨ ⲘⲠⲞⲨϢⲞⲠϤ ⲈⲢⲰⲞⲨ ϪⲈ ⲚⲀⲢⲈ ϨⲢⲀϤ ⲞⲨⲈϨ ⲠⲈ ⲈⲒⲈⲢⲞⲤⲀⲖⲎⲘ.
54Gia-cơ và Giăng là môn đồ Ngài, thấy vậy, nói rằng: Thưa Chúa, Chúa có muốn chúng tôi khiến lửa từ trên trời xuống thiêu họ chăng?
54ⲈⲦⲀⲨⲚⲀⲨ ⲆⲈ ⲚϪⲈⲚⲈϤⲘⲀⲐⲎⲦⲎⲤ ⲒⲀⲔⲰⲂⲞⲤ ⲚⲈⲘ ⲒⲰⲀⲚⲚⲎⲤ ⲠⲈϪⲰⲞⲨ ϪⲈ ⲠϬⲞⲒⲤ ⲬⲞⲨⲰϢ ⲚⲦⲈⲚϪⲞⲤ ⲞⲨⲞϨ ⲚⲦⲈϤⲒ ⲚϪⲈⲞⲨⲬⲢⲰⲘ ⲈⲂⲞⲖ ϦⲈⲚⲦⲪⲈ ⲞⲨⲞϨ ⲚⲦⲈϤⲢⲞⲔϨⲞⲨ ⲘⲪⲢⲎϮ ⲈⲦⲀϤⲈⲢϨⲰⲂ ⲚϪⲈⲎⲖⲒⲀⲤ
55Nhưng Đức Chúa Jêsus xây lại quở hai người, mà rằng: Các ngươi không biết tâm thần nào xui giục mình.
55ⲈⲦⲀϤⲪⲞⲚϨϤ ⲆⲈ ⲀϤⲈⲢⲈⲠⲒⲦⲒⲘⲀⲚ ⲚⲰⲞⲨ ⲈϤϪⲰ ⲘⲘⲞⲤ ϪⲈ ⲦⲈⲦⲈⲚⲈⲘⲒ ⲀⲚ ϪⲈ ⲚⲐⲰⲦⲈⲚ ⲀϢ ⲘⲠⲚⲈⲨⲘⲀⲚⲦⲈϤⲒ ⲀⲚ ⲚϪⲈⲠϢⲎⲢⲒ ⲘⲪⲢⲰⲘⲒ ⲈⲦⲀⲔⲈ ⲚⲒⲮⲨⲬⲎ ⲚⲦⲈⲚⲒⲢⲰⲘⲒ ⲀⲖⲖⲀ ⲈⲦⲀⲚϦⲞ.
56Rồi Ngài cùng môn đồ đi qua làng khác.
56ⲞⲨⲞϨ ⲀⲨϢⲈ ⲚⲰⲞⲨ ⲈⲔⲈϮⲘⲒ.
57Đang khi đi đường, có kẻ thưa Ngài rằng: Chúa đi đâu tôi sẽ theo đó.
57ⲞⲨⲞϨ ⲈⲨⲘⲞϢⲒ ϨⲒ ⲠⲒⲘⲰⲒⲦ ⲠⲈϪⲈ ⲞⲨⲀⲒ ⲚⲀϤ ϪⲈ ⲚⲦⲀⲘⲞϢⲒ ⲚⲤⲰⲔ ⲈⲪⲘⲀ ⲈⲦⲈⲔϢⲈ ⲚⲀⲔ ⲈⲢⲞϤ.
58Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Con cáo có hang, chim trời có ổ; song Con người không có chỗ mà gối đầu.
58ⲠⲈϪⲈ ⲒⲎⲤⲞⲨⲤ ⲚⲀϤ ⲚⲒⲂⲀϢⲞⲢ ⲞⲨⲞⲚⲦⲞⲨ ⲂⲎⲂ ⲘⲘⲀⲨ ⲞⲨⲞϨ ⲚⲒϨⲀⲖⲀϮ ⲚⲦⲈⲦⲪⲈ ⲞⲨⲞⲚⲦⲞⲨ ⲘⲀⲚⲞⲨⲞϨ ⲠϢⲎⲢⲒ ⲆⲈ ⲚⲐⲞϤ ⲘⲪⲢⲰⲘⲒ ⲘⲘⲞⲚⲦⲈϤ ⲘⲀⲚⲞⲨⲀϨϪⲰϤ ⲈⲢⲞϤ.
59Ngài phán cùng kẻ khác rằng: Ngươi hãy theo ta. Kẻ ấy thưa rằng: Xin cho phép tôi đi chôn cha tôi trước đã.
59ⲠⲈϪⲀϤ ⲆⲈ ⲚⲔⲈⲞⲨⲀⲒ ϪⲈ ⲘⲞϢⲒ ⲚⲤⲰⲒ ⲚⲐⲞϤ ⲆⲈ ⲠⲈϪⲀϤ ϪⲈ ⲠⲀϬⲞⲒⲤ ⲞⲨⲀϨⲤⲀϨⲚⲒ ⲚⲎⲒ ⲚϢⲞⲢⲠ ⲚⲦⲀϢⲈ ⲚⲦⲀⲐⲰⲘⲤ ⲘⲠⲀⲒⲰⲦ.
60Nhưng Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết; còn ngươi, hãy đi rao giảng nước Đức Chúa Trời.
60ⲠⲈϪⲀϤ ⲚⲀϤ ϪⲈ ⲬⲀ ⲚⲒⲢⲈϤⲘⲰⲞⲨⲦ ⲘⲀⲢⲞⲨⲔⲈⲤ ⲚⲞⲨⲢⲈϤⲘⲰⲞⲨⲦ ⲚⲐⲞⲔ ⲆⲈ ⲘⲀϢⲈ ⲚⲀⲔ ϨⲒⲰⲒϢ ⲚϮⲘⲈⲦⲞⲨⲢⲞ ⲚⲦⲈⲪⲚⲞⲨϮ.
61Có kẻ khác nữa thưa rằng: Lạy Chúa, tôi sẽ theo Chúa, song xin cho phép tôi trước về từ giã người trong nhà tôi.
61ⲔⲈⲞⲨⲀⲒ ⲆⲈ ⲠⲈϪⲀϤ ⲚⲀϤ ϪⲈ ϮⲚⲀⲘⲞϢⲒ ⲚⲤⲰⲔ ⲠϬⲞⲒⲤ ⲞⲨⲀϨⲤⲀϨⲚⲒ ⲚⲎⲒ ⲚϢⲞⲢⲠ ⲚⲦⲀⲈⲢⲀⲠⲞⲦⲀⲌⲈⲤⲐⲈ ⲚⲚⲎ ⲈⲦϦⲈⲚ ⲠⲀⲎⲒ.
62Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ai đã tra tay cầm cày, còn ngó lại đằng sau, thì không xứng đáng với nước Đức Chúa Trời.
62ⲠⲈϪⲀϤ ⲆⲈ ⲚⲀϤ ⲚϪⲈⲒⲎⲤⲞⲨⲤ ϪⲈ ⲘⲘⲞⲚ ϨⲖⲒ ⲈⲀϤϨⲒⲦⲞⲦϤ ⲈⲞⲨϨⲈⲂⲒ ⲚⲦⲈϤϪⲞⲨϢⲦ ⲈⲪⲀϨⲞⲨ ⲚⲀϢⲰⲠⲒ ⲈϤⲤⲞⲨⲦⲰⲚ ϦⲈⲚϮⲘⲈⲦⲞⲨⲢⲞ ⲚⲦⲈⲪⲚⲞⲨϮ.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.