Lu 9
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Đức Chúa Jêsus nhóm họp mười hai sứ đồ, ban quyền năng phép tắc để trị quỉ chữa bịnh.
1HOAKOAKOA mai la oia i ka poe umikumamalua o kana mau haumana, haawi mai la ia i ka mana no lakou, a me ka ikaika maluna o na daimonio a pau, a e hoola hoi lakou i na mai.
2Rồi Ngài sai đi rao giảng về nước Đức Chúa Trời cùng chữa lành kẻ có bịnh.
2A hoouna aku la oia ia lakou e hai aku i ke aupuni o ke Akua, a e hoola hoi i ka poe mai.
3Ngài dạy rằng: Đi đường chớ đem gì theo hết, hoặc gậy, hoặc bao, hoặc bánh, hoặc tiền bạc; cũng đừng đem hai áo.
3A olelo mai la oia ia lakou, Mai lawe ukana no ko oukou hele ana, aole i kookoo, aole i eke, aole i berena, aole i kala, aole hoi e papalua i ke kapa komo.
4Hễ các ngươi vào nhà nào, hãy ở đó cho đến khi đi.
4A ma ka hale a oukou e komo ai, malaila oukou e noho ai, a hele oukou mai kela wahi aku.
5Còn ai không tiếp rước các ngươi, hãy ra khỏi thành họ, và phủi bụi chân mình để làm chứng nghịch cùng họ.
5A o ka poe e hookipa ole ia oukou, a hele aku oukou mai kela kulanakauhale aku, e lulu aku i ka lepo mai ko oukou mau wawae aku, i mea hoike no lakou.
6Vậy, các sứ đồ ra đi, từ làng nầy tới làng kia, rao giảng Tin Lành khắp nơi và chữa lành người có bịnh.
6Hele aku no hoi lakou mawaena o na kauhale e hai aku ana i ka euanelio, a e hoola aku ana hoi, ma na wahi a pau.
7Bấy giờ, Hê rốt là vua chư hầu, nghe nói về các việc xảy ra, thì không biết nghĩ làm sao; vì kẻ nầy nói rằng: Giăng đã từ kẻ chết sống lại;
7A lohe ae la o Herode ke alii okana i na mea a pau i hanaia e ia; kanalua iho la ia, no ka mea, olelo kekahi poe, ua hoala hou ia mai o Ioane, mai waena mai o ka poe make;
8kẻ khác nói rằng: Ê-li đã hiện ra; và kẻ khác nữa thì rằng: Một trong các đấng tiên tri đời xưa đã sống lại.
8A o kekahi, ua ikeia'ku o Elia; a o kekahi, ua ala hou mai kekahi o ka poe kaula kahiko.
9Song Hê-rốt thì nói: Ta đã truyền chém Giăng rồi: vậy người nầy là ai, mà ta nghe làm những việc dường ấy? Vua bèn tìm cách thấy Đức Chúa Jêsus.
9A olelo iho la o Herode, Ua oki aku au i ke poo o Ioane, aka, owai la keia nona wau i lohe ai i keia mau mea? A makemake iho la ia e ike ia ia.
10Các sứ đồ trở về trình cùng Đức Chúa Jêsus mọi việc mình đã làm. Ngài bèn đem các sứ đồ đi tẻ ra với mình đến gần thành kia gọi là Bết-sai-đa.
10A hoi mai ka poe lunaolelo, hoike aku la lakou ia Iesu i na mea a pau a lakou i hana'i: lawe pu ae la oia ia lakou, hele malu aku la i ka waonahele no ke kulanakauhale i kapaia o Betesaida.
11Nhưng dân chúng nghe vậy, thì đi theo Ngài. Đức Chúa Jêsus tiếp đãi dân chúng, giảng cho họ về nước Đức Chúa Trời, và chữa cho những kẻ cần được lành bịnh.
11A ike na kanaka, hahai aku la lakou ia ia; halawai aloha oia me lakou, olelo mai la ia lakou no ke aupuni o ke Akua, a hoola iho la i ka poe e pono ai ke hoolaia.
12Khi gần tối, mười hai sứ đồ đến gần Ngài mà thưa rằng: Xin truyền cho dân chúng về, để họ đến các làng các ấp xung quanh mà trọ và kiếm chi ăn; vì chúng ta ở đây là nơi vắng vẻ.
12A kokoke i ke ahiahi, hele aku la ka umikumamalua, olelo aku la ia ia, E hookuu i ka ahakanaka e hele lakou i na kauhale, a me ka aina e kokoke mai ana, e moe ai, a e loaa'i hoi ka ai na lakou; no ka mea, maanei kakou ma kahi waonahele.
13Song Ngài phán rằng: Chính các ngươi hãy cho họ ăn. Các sứ đồ thưa rằng: Ví thử chính mình chúng tôi không đi mua đồ ăn cho hết thảy dân nầy, thì chỉ có năm cái bánh và hai con cá mà thôi.
13I mai la oia ia lakou, E haawi aku oukou ia lakou e ai. I aku la lakou, Elima wale no popo berena a makou a me na ia elua, ke hele ole makou e kuai i ai na keia poe kanaka a pau.
14Vả, bấy giờ có độ năm ngàn người nam ở đó. Ngài bèn phán cùng môn đồ rằng: Hãy biểu chúng ngồi từng hàng năm mươi người.
14No ka mea, elima paha o lakou tausani kanaka. Olelo mai la oia i kana mau haumana, E hoonoho papa ia lakou ilalo, e pakanalima i na papa.
15Môn đồ làm theo lời; chúng ngồi xuống hết thảy.
15A pela iho la lakou i hana'i, hoonoho iho la ia lakou a pau ilalo.
16Đoạn, Đức Chúa Jêsus lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, chúc tạ, rồi bẻ ra trao cho môn đồ, đặng phát cho đoàn dân.
16A lalau iho la oia ia mau popo berena elima, a me na ia elua, nana ae la iluna i ka lani, hoomaikai iho la ia mau mea, a wawahi iho la, haawi mai la hoi i na haumana e waiho aku imua o ka ahakanaka.
17Ai nấy ăn no rồi, người ta thâu được mười hai giỏ đầy những miếng thừa.
17A ai iho la lakou a pau, a maona; a ua ohiia mai la na mamala i koe mai ia lakou a piha na hinai he umikumamalua.
18Một ngày kia, Đức Chúa Jêsus đang cầu nguyện riêng, môn đồ nhóm lại xung quanh Ngài, Ngài hỏi rằng: Trong dân chúng, họ nói ta là ai?
18Eia hoi kekahi, ia ia e pule kaawale ana, o kana mau haumana pu me ia; ninau mai la oia ia lakou, i mai la, Owai la wau i ka kanaka olelo?
19Thưa rằng: Người nầy nói là Giăng Báp-tít, người kia nói là Ê-li; kẻ khác nói là một trong các đấng tiên tri đời xưa sống lại.
19Hai aku la lakou, i aku la, O Ioane Bapetite; a i ka kekahi, O Elia; a i ka kekahi, Ua ala hou mai kekahi o ka poe kaula kahiko.
20Ngài lại hỏi rằng: Còn về phần các ngươi thì nói ta là ai? Phi-e-rơ thưa rằng: Thầy là Đấng Christ của Đức Chúa Trời.
20Alaila i mai la oia ia lakou, Owai la hoi au i ka oukou olelo? Hai aku la o Petero, i aku la, O ka Mesia a ke Akua.
21Đức Chúa Jêsus nghiêm cấm môn đồ nói sự ấy với ai,
21Ao io mai la no oia ia lakou me ka papa ikaika mai, aole loa e hai aku ia mea ia hai.
22và phán thêm rằng: Con người phải chịu nhiều điều khốn khổ, phải bị các trưởng lão, các thầy tế lễ cả, và các thầy thông giáo bỏ ra, phải bị giết, ngày thứ ba phải sống lại.
22I mai la ia, Aole e ole ka hoomainoino nui ia mai o ke Keiki a ke kanaka, a me ka hooleia mai e ka poe lunakahiko, a me ka poe kahuua nui, a me ka poe kakauolelo, a e pepehiia hoi ia, a i ke kolu o ka la e hoala hou ia'i.
23Đoạn, Ngài phán cùng mọi người rằng: Nếu ai muốn theo ta, phải tự bỏ mình đi, mỗi ngày vác thập tự giá mình mà theo ta.
23Olelo mai oia i na mea a pau, Ina e makemake kekahi e hele mai mamuli o'u, e hoole iho oia ia ia iho, e hapai hoi i kona kea i kela la i keia la, a e hahai mai ia'u.
24Vì ai muốn cứu sự sống mình thì sẽ mất, còn ai vì cớ ta mất sự sống, thì sẽ cứu.
24No ka mea, o ka mea e makemake e malama i kona ola nei, e lilo no kona ola: aka, o ka mea e lilo kona ola no'u, e malama oia i kona ola.
25Nếu ai được cả thiên hạ, mà chính mình phải mất hoặc hư đi, thì có ích gì?
25No ka mea, heaha ka pomaikai o ke kanaka ke lilo mai ia ia keia ao a pau, a lilo aku oia iho, a e kiola ia'ku paha ia?
26Vì nếu ai hổ thẹn về ta và lời ta, thì Con người sẽ hổ thẹn về họ, khi Ngài ngự trong sự vinh hiển của mình, của Cha, và của thiên sứ thánh mà đến.
26No ka mea, o ka mea e hilahila mai ia'u, a i ka'u mau olelo, oia ka ke Keiki a ke kanaka e hilahila ai, i kona wa e hiki mai ai me kona nani, a me ko ka Makua, a me ko ka poe anela hemolele.
27Quả thật, ta nói cùng các ngươi, một vài người trong các ngươi đang đứng đây sẽ không chết trước khi chưa thấy nước Đức Chúa Trời.
27Ke hoomaopopo io aku nei au ia oukou, eia ke ku nei kekahi poe, aole e loaa e ia lakou ka make, a ike lakou i ke aupuni o ke Akua.
28Độ tám ngày sau khi phán các lời đó, Đức Chúa Jêsus đem Phi-e-rơ, Giăng và Gia-cơ đi với mình lên trên núi để cầu nguyện.
28Eia kekahi, a hala ae la na la ewalu paha mahope iho o ia mau olelo, lawe pu iho la oia ia Petero, a me Ioane, a me Iakobo, a pii aku la i ka mauna e pule.
29Đang khi cầu nguyện, diện mạo Ngài khác thường, áo Ngài trở nên sắc trắng chói lòa.
29Eia kekahi, i kana pule ana, pahaohao mai la kona maka, a keokeo olinolino mai la kona kapa.
30Và nầy, có hai người nói chuyện cùng Ngài; ấy là Môi-se và Ê-li,
30Aia hoi, kamailio mai la me ia na kanaka elua, o Mose laua o Elia;
31hiện ra trong sự vinh hiển, và nói về sự Ngài qua đời, là sự sẽ phải ứng nghiệm tại thành Giê-ru-sa-lem.
31Na mea i ikeia'ku me ka nani, a olelo mai la laua no kona haalele ana i kona ola ma Ierusalema.
32Phi-e-rơ cùng đồng bạn mình buồn ngủ lắm, nhưng vừa tỉnh thức ra, thấy vinh hiển của Đức Chúa Jêsus và hai đấng ấy đứng gần Ngài.
32A o Petero, a me na mea me ia, ua pauhia i ka hiamoe. A ala ae la, ike aku la lakou i kona nani, a i kela mau kanaka elua e ku pu ana me ia.
33Lúc hai đấng ấy lìa khỏi Đức Chúa Jêsus, Phi-e-rơ thưa Ngài rằng: Thưa thầy, chúng ta ở đây tốt lắm, hãy đóng ba trại, một cái cho thầy, một cái cho Môi-se và một cái cho Ê-li. Vì Phi-e-rơ không biết mình nói chi.
33Eia kekahi, i ko laua hele ana aku, mai ona aku la, olelo aku la o Petero ia Iesu, E ke Kumu, he mea maikai no kakou e noho maanei; e kukulu hoi makou i ekolu hale, nou kekahi, no Mose kekahi, a no Elia kekahi; aole ia i ike iho i kana mea i olelo ai.
34Khi người còn đang nói, có một đám mây kéo đến, bao phủ lấy; và khi vào trong đám mây, các môn đồ đều sợ hãi.
34A i kana olelo ana pela, hiki mai ke ao e hoomalumalu mai ana ia lakou; makau iho la lakou i ko lakou komo ana'e iloko o ua ao la.
35Bấy giờ, nghe có tiếng từ trong đám mây phán ra rằng: Nầy là Con ta, Người được lựa chọn của ta, hãy nghe Người.
35A he leo i pae mai noloko mai o ua ao la, i mai la, O ka'u Keiki punahele keia; e hoolohe oukou ia ia.
36Khi tiếng ấy phát ra, thì Đức Chúa Jêsus ở một mình. Các môn đồ nín lặng, không nói cùng ai về sự mình đã thấy.
36A i ka pae ana mai o ua leo la, ua ikeia'ku o Iesu, oia hookahi no. Huna iho la lakou, aole i hai aku ia hai, ia mau la, i kahi mea a lakou i ike ai.
37Bữa sau, khi Chúa cùng môn đồ từ núi xuống, có đoàn dân đông đến đón rước Ngài.
37Eia kekahi, ia la ae, i ka iho ana mai o lakou mai ka mauna mai, he nui ka ahakanaka i halawai me ia.
38Một người trong đám đông kêu lên rằng: Lạy thầy, xin thầy đoái đến con trai tôi, vì là con một tôi.
38Aia hoi, kahea aku la kekahi o ua ahakanaka la, i aku la, E ke Kumu, ke noi aku nei au ia oe e nana mai oe i ka'u keiki; no ka mea, o ka'u keiki kamakahi no ia.
39Một quỉ ám nó, thình lình kêu la; quỉ vật vã nó dữ tợn, làm cho sôi bọt miếng, mình mẩy nát hết, rồi mới ra khỏi.
39Aia hoi, ua loohia oia e kekahi uhane, auwe koke no ia; a ua hookaawiliia e ia, a huahua'e, aneane haalele ole ua uhane la ia ia, me ka hoonawali wali loa ia ia.
40Tôi đã xin môn đồ thầy đuổi quỉ đó, nhưng họ đuổi không được.
40A ua noi aku au i kau mau haumana, e mahiki aku ia ia; aole e hiki ia lakou.
41Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Hỡi dòng dõi không tin và bội nghịch kia, ta ở với các ngươi và nhịn các ngươi cho đến chừng nào? Hãy đem con của ngươi lại đây.
41A olelo mai la Iesu, i mai la, E ka hanauna manaoio ole, a me ka lauwili, pehea ka loihi o ko'u noho ana me oukou, a me ko'u hoomanawanui ana'ku ia oukou? E lawe mai i kau keiki ia nei.
42Đứa con trai vừa lại gần, quỉ xô nó nhào xuống đất, và vật vã dữ tợn. Song Đức Chúa Jêsus quở nặng tà ma, chữa lành con trẻ ấy, và giao lại cho cha nó.
42A i kona hele ana mai, hoohina iho la ka daimonio ia ia me ke kupaka. Papa aku la o Iesu i ka uhane hankae, a hoola iho la i ke keiki, a hoihoi mai la ia ia i kona makuakane.
43Ai nấy đều lấy làm lạ về quyền phép cao trọng của Đức Chúa Trời. Khi mọi người đang khen lạ các việc Đức Chúa Jêsus làm, Ngài phán cùng môn đồ rằng:
43Pihoihoi wale iho la lakou a pau i ka mana o ke Akua. A i ka mahalo ana o lakou i kela mea i keia mea a Iesu i hana'i, i mai la ia i kana mau haumana,
44Về phần các ngươi, hãy nghe kỹ điều ta sẽ nói cùng: Con người sẽ bị nộp trong tay người ta.
44E hookomo oukou i keia mau olelo iloko o ko oukou mau pepeiao; oia, e haawiia'ku ana ke Keiki a ke kanaka iloko o na lima o kanaka.
45Nhưng các môn đồ không hiểu lời ấy, vì đã che khuất cho mình để chẳng rõ nghĩa làm sao; và sợ không dám hỏi Ngài về lời ấy.
45Aka, aole lakou i hoomaopopo i keia olelo; ua huna iho ia ia lakou, i ole lakou e ike; a hopohopo aku la lakou ke ninau aku ia ia no ia olelo.
46Các môn đồ biện luận cùng nhau cho biết ai là lớn hơn hết trong hàng mình.
46Alaila kupu mai la ka hoopaapaa ana iwaena o lakou i ko lakou mea e oi aku ana.
47Nhưng Đức Chúa Jêsus biết ý tưởng trong lòng môn đồ, thì lấy một đứa con trẻ để gần mình,
47Ike iho la o Iesu i ke kukakuka ana o ko lakou mau naau, lawe iho la ia i kekahi keiki, hooku iho la ia ia me ia iho;
48mà phán rằng: Hễ ai vì danh ta mà tiếp con trẻ nầy, tức là tiếp ta; còn ai tiếp ta, tức là tiếp Đấng đã sai ta. Vì kẻ nào hèn mọn hơn hết trong vòng các ngươi, ấy chính người đó là kẻ cao trọng.
48A olelo mai la ia lakou, O ka mea e malama i keia keiki no ko'u inoa, oia ke malama mai ia'u; a o ka mea e malama mai ia'u, oia ke malama i ka mea nana au i hoouna mai: no ka mea, o ka mea uuku loa iwaena o oukou a pau loa, oia ke oi aku ana.
49Giăng cất tiếng nói rằng: Thưa thầy, chúng tôi từng thấy có kẻ nhân danh thầy mà trừ quỉ; chúng tôi đã cấm họ, vì không cùng chúng tôi theo thầy.
49Olelo aku la o Ioane, i aku la, E ke Kumu, ua ike makou i kekahi e mahiki ana i na daimonio ma kou inoa; a papa aku la makou ia ia, no ka mea, aole ia i hahai pu me makou.
50Nhưng Đức Chúa Jêsus phán rằng: Đừng cấm họ, vì ai không nghịch cùng các ngươi, là thuận với các ngươi.
50A olelo mai la o Iesu ia ia, Mai papa aku; no ka mea, o ka mea ku e ole mai ia kakou, no kakou no ia.
51Khi gần đến k” Đức Chúa Jêsus được đem lên khỏi thế gian, Ngài quyết định đi thành Giê-ru-sa-lem.
51Eia kekahi, i ka hiki ana o na la e laweia'ku ai ia, kau pono kona maka e hele no ia i Ierusalema;
52Ngài sai kẻ đem tin đi trước mình. Họ ra đi, vào một làng của người Sa- ma-ri, để sửa soạn nhà trọ cho Ngài;
52A hoouna aku la oia i na luna mamua ona: a hele aku la ua mau mea la, a komo aku la i kekahi kulanakauhale o ko Samaria e hoomakaukau nona.
53song người Sa-ma-ri không tiếp rước Ngài, vì Ngài đi thẳng lên thành Giê- ru-sa-lem.
53Aole hoi lakou i hookipa ia ia no ke kau pono ana o kona maka e hele i Ierusalema.
54Gia-cơ và Giăng là môn đồ Ngài, thấy vậy, nói rằng: Thưa Chúa, Chúa có muốn chúng tôi khiến lửa từ trên trời xuống thiêu họ chăng?
54A ike iho la na haumana ana, o Iakobo, a me Ioane, i aku la laua, E ka Haku, e pono anei ia oe ke kahea aku maua i ahi e iho mai, mai ka lani mai, i pau ai lakou, e like me ka Elia hana ana?
55Nhưng Đức Chúa Jêsus xây lại quở hai người, mà rằng: Các ngươi không biết tâm thần nào xui giục mình.
55A haliu ae la ia, papa mai la ia laua, i mai la, Aole olua i ike i ke ano o ko olua naau;
56Rồi Ngài cùng môn đồ đi qua làng khác.
56No ka mea, aole i hele mai ke Keiki a ke kanaka, e pepehi i na kanaka, aka, e hoola no. A hele aku la lakou i kekahi kauhalo aku.
57Đang khi đi đường, có kẻ thưa Ngài rằng: Chúa đi đâu tôi sẽ theo đó.
57Eia kekahi, i ko lakou hele ana ma ke alanui, olelo aku la kekahi kanaka ia ia, E ka Haku, e hahai aku wau ia oe i na wahi au e hele ai.
58Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Con cáo có hang, chim trời có ổ; song Con người không có chỗ mà gối đầu.
58I mai la o Iesu ia ia, He mau lua ko na alopeke, he mau punana ko na manu o ke lewa; aka, o ke Keiki a ke kanaka, aole ona wahi e hoomoe ai i kona poo.
59Ngài phán cùng kẻ khác rằng: Ngươi hãy theo ta. Kẻ ấy thưa rằng: Xin cho phép tôi đi chôn cha tôi trước đã.
59A i mai la oia i kekahi, E hahai mai oe ia'u. Aka, i aku la ia, E ka Haku, e ae mai oe ia'u e hoi au e kanu mua i ko'u makuakane.
60Nhưng Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết; còn ngươi, hãy đi rao giảng nước Đức Chúa Trời.
60I mai la o Iesu ia ia, Na ka poe make e kanu i ko lakou poe make; aka, e hele oe e hai aku i ke aupuni o ke Akua.
61Có kẻ khác nữa thưa rằng: Lạy Chúa, tôi sẽ theo Chúa, song xin cho phép tôi trước về từ giã người trong nhà tôi.
61Olelo aku la hoi kekahi ia ia, E hahai no au ia oe, e ka Haku; aka, e ae mua oe ia'u e uwe aku i ka poe ma ko'u hale.
62Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ai đã tra tay cầm cày, còn ngó lại đằng sau, thì không xứng đáng với nước Đức Chúa Trời.
62I mai la o Iesu ia ia, O ko kanaka i lalau kona lima i ka oopalau, a nana aku i hope, aole ia e pono no ke aupuni o ke Akua.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.