Lu 19
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Đức Chúa Jêsus vào thành Giê-ri-cô, đi ngang qua phố.
1A KOMO ae la ia iloko o Ieriko, a mawaena ia i hele aku ai.
2Tại đó, có một người tên là Xa-chê, làm đầu bọn thâu thuế, và giàu có.
2Aia ke kanaka i kapaia ka inoa o Zakaio, he lunaauhau nui, he nui no hoi kona waiwai.
3Người đó tìm xem Đức Chúa Jêsus là ai, nhưng không thấy được, vì đoàn dân đông lắm, mà mình lại thấp.
3A imi ae la ia e ike ia Iesu i kona ano; aole hoi e hiki no ka paapu o kanaka, no ka mea, he poupou kona kino.
4Vậy, Xa-chê chạy trước, trèo lên cây sung, để ngó thấy Đức Chúa Jêsus, vì Ngài phải đi qua đó.
4Holo ae la hoi ia mamua, pii ae la iluna ma ka laau sukomorea e ike ia ia, i kona hele ana'e malaila.
5Đức Chúa Jêsus đến chỗ ấy, ngước mắt lên mà phán rằng: Hỡi Xa-chê, hãy xuống cho mau, vì hôm nay ta phải ở nhà ngươi.
5A hiki aku la o Iesu ma ia wahi, nana ae la ia iluna, a ike ia ia, olelo ae la ia ia, E Zakaio, e iho koke mai oe ilalo; no ka mea, ua pono ia'u ke noho ma kou hale i keia la.
6Xa-chê vội vàng xuống và mừng rước Ngài.
6A iho koke mai la oia ilalo, a hookipa ao la ia ia me ka olioli.
7Ai nấy thấy vậy, đều lằm bằm rằng: Người nầy vào nhà kẻ có tội mà trọ!
7A o ka poe i ike ia mea, ohumu iho la lakou a pau, i ae la, Ua hele ia e hookipaia'e e ke kanaka hewa.
8Song Xa-chê đứng trước mặt Chúa, thưa rằng: Lạy Chúa, nầy, tôi lấy nửa gia tài mình mà cho kẻ nghèo, và nếu có làm thiệt hại ai, bất k” việc gì, tôi sẽ đền gấp tư.
8A ku ae la o Zakaio, i aku la ia i ka Haku. Ein, alikealike o kuu waiwai, e ka Haku, o ka'u ia e haawi aku ai no ka poe ilihune; a ina i lawe au me ka hewa i ka kekahi, e paha ka'u mea e uku aku ai ia.
9Đức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Hôm nay sự cứu đã vào nhà nầy, vì người nầy cũng là con cháu Aùp-ra-ham.
9Alaila olelo mai la Iesu noua. I neia la ua hiki mai ke ola ma keia hale, no ka mea, he mamo no hoi oia nei na Aberahama.
10Bởi Con người đã đến tìm và cứu kẻ bị mất.
10No ka mea, ua hele mai nei ke Keiki a ke kanaka e imi a e hoola i ka mea i nalowale.
11Họ nghe những lời ấy, thì Đức Chúa Jêsus thêm một thí dụ nữa, vì Ngài gần đến thành Giê-ru-sa-lem, và người ta tưởng rằng nước Đức Chúa Trời sẽ hiện ra ngay.
11A i ko lakou hoolohe ana ia mea, olelo hou mai la oia i neia olelonane; no ka mea, ua kokoke oia i Ierusalema, a ua manao lakou e ike koke ia ke aupuni o ke Akua.
12Vậy, Ngài phán rằng: Có một vị thế tử đi phương xa, đặng chịu phong chức làm vua rồi trở về;
12Nolaila i olelo mai ai oia, O kekahi alii e hele ana i ka aina loihi aku e loaa ia ia ke aupuni, a e hoi mai;
13bèn gọi mười người trong đám đầy tớ mình, giao cho mười nén bạc, và dạy rằng: Hãy dùng bạc nầy sanh lợi cho đến khi ta trở về.
13Hea aku la ia i na kauwa ana he umi haawi aku la ia lakou i ua pouna he umi, a i aku la ia lakou, E kuai oukou a hoi mai au.
14Song dân xứ ấy ghét người, thì sai sứ theo đặng nói rằng: Chúng tôi không muốn người nầy cai trị chúng tôi!
14A ua hoowahawaha kona poe kanaka ia ia, a hoouna aku la i ka luna mahope ona, i aku la, Aole o makou makemake i alii ia maluna o makou.
15Khi người đã chịu phong chức làm vua rồi, trở về, đòi các đầy tớ đã lãnh bạc đến, đặng cho biết mỗi người làm lợi được bao nhiêu.
15Eia kekahi, a loaa mai ia ia ke aupuni, a hoi mai la, kauoha ae la e kiiia na poe kanwa la ana i waiho ai i ke kala, i ike oia i ka mea i loaa hou mai i kela mea i keia mea i ke kuai ana.
16Đầy tớ thứ nhất đến trình rằng: Lạy Chúa, nén bạn của chúa sanh lợi được mười nén.
16Alaila hele mai la ka mua, i mai la, E ka Haku, ua loaa mai i kau pouna na pouna hou he umi.
17Chủ rằng: Hỡi đầy tớ ngay lành kia, được lắm; vì ngươi trung tín trong sự nhỏ mọn, ngươi sẽ được cai trị mười thành.
17I aku la oia ia ia, Ua pono, e ke kauwa maikai; ua malama pono oe i ka mea uuku, e noho oe maluna o na kulanakauhale he umi.
18Người thứ hai đến thưa rằng: Lạy chúa, nén bạc của Chúa sanh lợi ra được năm nén.
18Alaila hele mai la ka lua, i mai la, E ka haku, ua loaa mai i kau pouna na pouna hou elima.
19Chủ rằng: Ngươi được cai trị năm thành.
19A i aku la oia ia ia, E noho hoi oe maluna o na kulanakauhale elima.
20Người khác đến thưa rằng: Lạy chúa, đây nầy, nén bạc của chúa tôi đã gói giữ trong khăn;
20A hele mai la kekahi, i mai la, E ka haku, eia kau pouna a'u i malama ai e wniho ana maloko o ke kahei;
21bởi tôi sợ chúa, vì chúa là người nghiêm nhặt, hay lấy trong nơi không để, gặt trong chỗ không gieo.
21No ka mea, ua makau wau ia oe, no ka mea, he kanaka awaawa oe, ua lawe oe i ka mea aole nau i waiho iho ilalo, a ua ohi oe i ka mea nolo nau i lulu.
22Chủ rằng: Hỡi đầy tớ gian ác kia, ta cứ lời ngươi nói ra mà xét ngươi. Ngươi biết ta là người nghiêm nhặt, hay lấy trong chỗ không để, gặt trong chỗ không gieo;
22Olelo aku la oia ia ia, No kou waha ponoi mai e hoahewa aku ai au ia oe, e ke kauwa lokoino: un ike oe he kanaku awaawa au e lane ana i ka mea aole na'u e waiho iho ilalo, a e ohi ana i ka mea aole na'u i lulu:
23cớ sao ngươi không giao bạc ta cho hàng bạc? Khi ta về, sẽ lấy lại vốn và lời.
23No ke aha la i haawi ole aku ai oe i ka'u kala i kahi kuai kala, a hoi mai au e ohi hou au ia me ka uku hoopanee?
24Chủ lại nói cùng các người đứng đó rằng: Hãy lấy nén bạc nó đi, cho người có mười nén.
24Alaila olelo aku la ia i ka poe e ku mai ana, E lawe ae i ka pouna mai ona no, a e haawi aku na ka mea ia ia na pouna he umi.
25Họ bèn thưa rằng: Lạy chúa, người ấy có mười nén rồi.
25(Olelo mai la lakou ia in, E ka haku he umi no ana pouna.)
26Ta nói cùng các ngươi, ai có, thì sẽ cho thêm; song ai không có, thì sẽ cất luôn của họ đã có nữa.
26No ka mea, ke olelo aku nei au ia oukou, O ka mea ua loaa, e haawi hou ia no ia ia, a o ka mea ua loaa ole, e kailiia no kana.
27Còn như những kẻ nghịch cùng ta, không muốn ta cai trị họ, hãy kéo họ đến đây, và chém đi trước mặt ta.
27A o kela mau enemi o'u, ka poe i makemake ole i alii au maluna o lakou, e halihali mai, a e luku iho imua o ko'u alo.
28Sau khi Đức Chúa Jêsus phán điều đó, thì đi trước mặt dân chúng lên thành Giê-ru-sa-lem.
28A pau kana olelo ana ia mea, hele mua ia o pii ana i Ierusalema.
29Đức Chúa Jêsus gần đến thành Bê-pha-giê và Bê-tha-ni, ngang núi gọi là ô-li-ve, sai hai môn đồ đi,
29Eia kekahi, a kokoke ia ia Betepage a me Betania, ma ka mauna i kapaia o Oliveta, hoouna aku la oia i na haumana ana elua,
30và dặn rằng: Hãy đi đến làng trước mặt các ngươi; khi vào làng, sẽ thấy một lừa con buộc đó, chưa hề có ai cỡi; hãy mở và dắt về cho ta.
30I mai la, E hele aku olua i kela kulanahale o ku pono mai ana; a i ko olua komo ana iloko, e ike aku no olua i ke keiki hoki i hikiiia, aole i nohoia e ke kanaka, e wehe ao a e kai mai ia ia.
31Hoặc có ai hỏi sao các ngươi mở nó ra, hãy trả lời rằng: Chúa cần dùng lừa nầy.
31A ina e ninau mai kekahi ia olua, No ke aha la olua e wehe ai ia ia? e olelo aku olua ia ia, Ua nele ka Haku ia mea e pono ai.
32Hai người được sai ra đi, quả gặp mọi điều y như Đức Chúa Jêsus đã phán.
32Hele aku la ua mau mea la i hoounaia, a ike aku la e like me kana olelo ana ia laua.
33Đang mở lừa con, các chủ lừa hỏi rằng: Sao mở lừa con nầy ra:
33A i ko laua wehe ana'e i ke keiki hoki, ninau mai la na mea nona ia ia laua, No ke aha la olua e wehe ai i ke keiki hoki?
34Hai người trả lời rằng: Chúa cần dùng nó.
34I aku la laua, Ua nele ka Haku ia mea e pono ai.
35Hai người bèn dắt lừa về cho Đức Chúa Jêsus; rồi lấy áo mình trải trên con lừa, nâng Ngài lên cỡi.
35A kai mai la laua ia ia io Iesu la; a kau aku la lakou i ko lakou mau aahu maluna o ke keiki hoki, hoonoho ae la lakou ia Iesu maluna iho.
36Khi Đức Chúa Jêsus đang đi tới, có nhiều kẻ trải áo trên đường.
36A i kona holo ana'ku, hohola iho la lakou i ko lakou mau kapa ma ke alanui.
37Lúc đến gần dốc núi ô-li-ve, cả đám môn đồ lấy làm mừng rỡ, và cả tiếng ngợi khen Đức Chúa Trời về những phép lạ mình đã thấy,
37A kokoke aku la oia ma ke kaolo o ka mauna o Oliveta, hauoli ae la ka ahahaumana a pau, e hoolea ana i ke Akua me ka leo nui no na hana mana a pau a lakou i ike ai;
38mà nói rằng: Đáng ngợi khen Vua nhân danh Chúa mà đến! Bình an ở trên trời, và vinh hiển trên các nơi rất cao!
38I aku la, E hoomaikaiia ke Alii i hele mai nei ma ka inoa o ka Haku; he malu maloko o ka lani, a ho hoonani iluna lilo loa.
39Bấy giờ, có mấy người Pha-ri-si ở trong đám dân đông nói cùng Ngài rằng: Thưa thầy, xin quở trách môn đồ thầy!
39A olelo aku la ia ia kekahi poe Parisaio mawaena o ka ahakanaka, E ke Kumu, e papa oe i kau poe haumana.
40Ngài đáp rằng: Ta phán cùng các ngươi, nếu họ nín lặng thì đá sẽ kêu lên.
40Olelo mai la hoi oia, i mai la ia lakou, Ke olelo aku nei au ia oukou, Ina e olelo ole lakou nei, e hooho koke mai no na pohaku.
41Khi Đức Chúa Jêsus gần đến thành, thấy thì khóc về thành, và phán rằng:
41A kokoke aku la ia, nana ae la i ke kulanakauhale, uwe iho la oia ia ia;
42Ước gì, ít nữa là ngày nay, mầy đã hiểu biết sự làm cho mầy được bình an! Song hiện nay những sự ấy kín giấu nơi mắt mầy.
42I iho la, Ina oe i hoomanao, o oe, i keia la ou, i kau mau mea e malu ai! aka ano, ua hunaia no ia i keu mau maka.
43Vì sẽ có ngày xảy đến cho mầy, khi quân nghịch đào hố xung quanh mầy, vây mầy chặt bốn bề.
43No ka mea, e hiki mai ana no na la ia oe, e hana mai ai kou poe enemi, i ka pakaua a poai ia oe, a e hoopuni no hoi lakou ia oe, a e hoopaa ia oe ma kela aoao, a ma keia aoao a puni;
44Họ sẽ hủy hết thảy, mầy và con cái ở giữa mầy nữa. Không để cho mầy hòn đá nầy trên hòn đá kia, vì mầy không biết lúc mình đã được thăm viếng.
44A e hoohiolo lakou ia oe a me kau poe keiki iloko ou, aole hoi lakou e waiho i kekahi pohaku iloko ou, maluna iho o kekahi pohaku; no ka mea, aole oe i hoomanao i kou manawa i kipaia ai.
45Đức Chúa Jêsus vào đền thờ rồi, bèn đuổi những kẻ bán ở đó ra,
45A komo ae la oia iloko o ka luakini, kipaku aka la oia i ka poe kuai lilo aku maloko, a me ka poe kuai lilo mai.
46mà phán rằng: Có lời chép rằng: Nhà ta sẽ là nhà cầu nguyện; song các ngươi làm thành ra một cái hang trộm cướp.
46I mai la oia ia lakou, Ua palapalaia, He hale pule ko'u hale; aka, ua hooliloia'e nei ia e oukou i ana no ka poe powa.
47Hằng ngày Ngài giảng dạy trong đền thờ. Các thầy tế lễ cả, các thầy thông giáo, cùng người tôn trưởng trong dân tìm phương giết Ngài;
47A ao mai la oia iloko o ka luakini i kela la i keia la; a o na kahuna nui a me ka poe kakauolelo, a me na luna o kanaka, imi ae la lakou e pepehi ia ia.
48nhưng họ không biết dùng chước chi, vì dân sự đều chăm chỉ mà nghe Ngài nói.
48Aole nae i loaa ia lakou ka mea e hiki ai; no ka mea, ua hooikaika ka poe kanaka e hoolohe ia ia.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.