Lu 15
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Hết thảy các người thâu thuế và người có tội đến gần Đức Chúa Jêsus đặng nghe Ngài giảng.
1A LAILA hele aku la io na la ka poe lunaauhau a pau, a me ka poe hewa e hoolohe ia ia.
2Các người Pha-ri-si và các thầy thông giáo lằm bằm mà nói rằng: Người nầy tiếp những kẻ tội lỗi, và cùng ăn với họ!
2A ohumu iho la ka poe Parisaio a me ka poe kakauolelo, i ae la, Ua hoolauna oia nei me ka poe hewa, a ua ai pu no hoi me lakou.
3Ngài bèn phán cho họ lời thí dụ nầy:
3Olelo mai la oia i keia olelonane ia lakou, i mai la,
4Trong các ngươi ai là người có một trăm con chiên, nếu mất một con, mà không để chín mươi chín con nơi đồng vắng, đặng đi tìm con đã mất cho k” được sao?
4Owai ke kanaka iwaena o oukou he poe hipa kana hookahi haneri, a nalowale kekahi o lakou, aole anei ia i waiho aku i na hipa he kanaiwakumamaiwa ma ka waonahele, a imi aku i ka mea i nalowale a loaa ia ia ia?
5Khi đã kiếm được, thì vui mừng vác nó lên vai;
5A loaa, alaila e kau ia ia ma kona poohiwi me ka olioli?
6đoạn, về đến nhà, kêu bạn hữu và kẻ lân cận, mà rằng: Hãy chung vui với ta, vì ta đã tìm được con chiên bị mất.
6A hiki mai ia i ka hale, houlunlu oia i na hoaaloha a me na hoalauna, me ka olelo ia lakou, E hauoli pu mai me au; no ka mea, ua loaa ia'u kuu wahi hipa i nalowale.
7Ta nói cùng các ngươi, trên trời cũng như vậy, sẽ vui mừng cho một kẻ có tội ăn năn hơn là chín mươi chín kẻ công bình không cần phải ăn năn.
7Ke olelo aku nei au ia oukou, ua oi aku ka olioli ma ka lani no ke kanaka hewa hookahi e mihi ana, mamua o na kanaka maikai he kanaiwakumamaiwa aole pono ia lakou ke mihi.
8Hay là, có người đàn bà nào có mười đồng bạc, mất một đồng, mà không thắp đèn, quét nhà, kiếm kỹ càng cho k” được sao?
8A owai la hoi ka wahine he mau hapawalu kana he umi, a i nalowale kekahi, aole ia e kuni i ke kukui a kahili i ka hale, a imi ikaika a loaa ia ia ia?
9Khi tìm được rồi, gọi bầu bạn và người lân cận mình, mà rằng: Hãy chung vui với ta, vì ta đã tìm được đồng bạc bị mất.
9A loaa, e houluulu no ia i na hoaaloha a me na hoalauna, a olelo aku, E hauoli pu mai me au; no ka mea, ua loaa ia'u ka hapawalu i nalowale.
10Ta nói cùng các ngươi, trước mặt thiên sứ của Đức Chúa Trời cũng như vậy, sẽ mừng rỡ cho một kẻ có tội ăn năn.
10Pela hoi, ke olelo aku nei au ia oukou, He olioli no imua o ke alo o ko ke Akua poe anela i ke kanaka hewa hookahi e mihi ana.
11Ngài lại phán rằng: Một người kia có hai con trai.
11I mai la hoi ia, O kekahi kanaka elua ana keiki.
12Người em nói với cha rằng: Thưa cha, xin chia cho tôi phần của mà tôi sẽ được. Người cha liền chia của mình cho hai con.
12Olelo aku la ke kaikaina i kona makuakane, E ka makua, e haawi mai oe ia'u i ko'u puu o ka waiwai. A mahele iho la oia i ka waiwai no lana,
13Cách ít ngày, người em tóm thâu hết, đi phương xa, ở đó, ăn chơi hoang đàng, tiêu sạch gia tài mình.
13Aole nui na la mahope iho houluulu mai ke keiki pokii i kana a pau, hele aku la ia i ka aina loihi aku: a malaila ia i hoomaunauna aku ai i kana waiwai e noho uhauha ana.
14Khi đã xài hết của rồi, trong xứ xảy có cơn đói lớn; nó mới bị nghèo thiếu,
14A hoopau aku la oia i kana a pau, nui aku la ka wi o kela aina, a nele iho la ia.
15bèn đi làm mướn cho một người bổn xứ, thì họ sai ra đồng chăn heo.
15Hele ae la hoi ia a hoopili aku me kekahi kamaaina o ua aina la: a hoouna ae la oia ia ia i kona mau aina e hanai puaa.
16Nó muốn lấy vỏ đậu của heo ăn mà ăn cho no, nhưng chẳng ai cho.
16A e ake no ia e hoopiha i kona opu me na hua keratio a na puaa i ai ai, aole hoi mea nana i haawi ia ia.
17Vậy nó mới tỉnh ngộ, mà rằng: Tại nhà cha ta, biết bao người làm mướn được bánh ăn dư dật, mà ta đây phải chết đói!
17A loaa oia ia ia iho, i iho la ia. He nui ka poe paaua a ko'u makuakane, he ai ka lakou e maona ai a koe aku, a e make ana hoi au i ka pololi!
18Ta sẽ đứng dậy trở về cùng cha, mà rằng: Thưa cha, tôi đã đặng tội với trời và với cha,
18E ku au a e hele aku i kuu makuakane, a e olelo aku au ia ia, E kuu makua, ua hana hewa aku wau i ka lani a ia oe;
19không đáng gọi là con của cha nữa; xin cha đãi tôi như đứa làm mướn của cha vậy.
19Aole au e pono ke kapa hou ia mai he keiki nau; e hoohalike mai oe ia'u me kekahi o kau poe paaua.
20Nó bèn đứng dậy mà về cùng cha mình. Khi còn ở đàng xa, cha nó thấy thì động lòng thương xót, chạy ra ôm lấy cổ mà hôn.
20A en ae la ia a hele mai i kona makuakane: a ia ia i kahi loihi aku, ike aku la kona makuakane ia ia, hu ae la kona aloha, holo aku la ia, apo aku la i kona a-i, a honi aku la ia ia.
21Con thưa cùng cha rằng: Cha ơi, tôi đã đặng tội với trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con của cha nữa.
21I mai la ke keiki ia ia, E ka makua, ua hana hewa aku wau i ka lani, a ia oe, aole e pono ke kapa hou ia mai he keiki nau.
22nhưng người cha bảo đầy tớ rằng: Hãy mau mau lấy áo tốt nhất mặc cho nó; đeo nhẫn vào ngón tay, mang giày vào chân.
22Aka, i aku la ka makua i kana mau kauwa, E lawe mai i ka aahu maikai loa, a e hoaahu ae ia ia; a e hookomo i ke komolima ma kona lima, a me na kamaa ma kona mau wawae;
23Hãy bắt bò con mập làm thịt đi. Chúng ta hãy ăn mừng,
23A e lawe mai hoi i ke keiki bipi i kupaluia, e kalua; a e ai kakou me ka olioli;
24vì con ta đây đã chết mà bây giờ lại sống, đã mất mà bây giờ lại thấy được. Đoạn, họ khởi sự vui mừng.
24No ka mea, ua make keia keiki a'u, a na ola hou mai nei; nalowale aku la hoi ia, a ua loaa mai net A ahaaina iho la lakou me ka olioli.
25Vả, con trai cả đang ở ngoài đồng. Khi trở về gần đến nhà, nghe tiếng đàn ca nhảy múa,
25A o kana keiki hiapo, aia no ia ma ka waena; a i kona hele ana mai a kokoke i ka hale, lohe iho la ia i ka hula a me ka haa ana.
26bèn gọi một đầy tớ mà hỏi cớ gì.
26Kahea mai la ia i kekahi o ka poe kauwa, ninau mai la i ke ano o ia mau mea.
27Đầy tớ thưa rằng: Em cậu bây giờ trở về, nên cha cậu đã làm thịt bò con mập, vì thấy em về được mạnh khỏe.
27Hai aku la hoi oia ia ia, Ua hiki mai kou kaikaina; a ua kalua iho nei kou makuakane i ke keiki bipi i kupaluia, no ka mea, ua loaa mai nei oia ia ia e ola ana.
28Con cả liền nổi giận, không muốn vào nhà. Vậy cha nó ra khuyên nó vào.
28Huhu iho la ia, aole i makemako e komo iloko. Nolai la i hele aku ai kona makuakane iwaho, a nonoi aku ia ia.
29Nhưng nó thưa cha rằng: Nầy, tôi giúp việc cha đã bấy nhiêu năm, chưa từng trái phép, mà cha chẳng hề cho tôi một con dê con đặng ăn chơi với bạn hữu tôi.
29Olelo mai la ia i kona makuakane, Eia hoi, he nui no neia mau makahiki a'u i malama aku ai ia oe, aole hoi au i hoohala iki i kau olelo; aole loa hoi oe i haawi mai i wahi keiki kao na'u e ahaaina olioli pu ai au me ko'u mau honaloha;
30Nhưng nay con của cha kia, là đứa đã ăn hết gia tài cha với phường điếm đĩ rồi trở về, thì cha vì nó làm thịt bò con mập!
30Aka hoi, i ka hoi ana mai o keia keiki au ka mea i hokai aku i kou waiwai me na wahine hookamakama, ua kalua koke no oe nana i ke keiki bipi i kupaluia.
31Người cha nói rằng: Con ơi, con ở cùng cha luôn, hết thảy của cha là của con.
31A i aku la oia ia ia, E ka'u keiki, ua noho mau oe me au, a o na mea a pau a'u, o kau no ia.
32Nhưng thật nên dọn tiệc và vui mừng, vì em con đây đã chết mà lại sống, đã mất mà lại thấy được.
32He mea pono no kakou e ahaaina olioli a me ka hauoli; no ka mea, o kou kaikaina nei, ua make no ia, a na ola hou mai nei; nalowale aku la ia, a ua loaa mai nei.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.