Lu 15
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibal Olcim (Matupi Chin)
1Hết thảy các người thâu thuế và người có tội đến gần Đức Chúa Jêsus đặng nghe Ngài giảng.
1A om uh vaengah mangmucoi rhoek neh hlangtholh rhoek loh anih taengah hnatun ham boeih a paan uh.
2Các người Pha-ri-si và các thầy thông giáo lằm bằm mà nói rằng: Người nầy tiếp những kẻ tội lỗi, và cùng ăn với họ!
2Te vaengah Pharisee rhoek neh cadaek rhoek te cai uh tih, “Anih loh hlangtholh rhoek a doe tih amih taengah a caak,” a ti uh.
3Ngài bèn phán cho họ lời thí dụ nầy:
3Te dongah hekah nuettahnah he amih ham a thui pa tih,
4Trong các ngươi ai là người có một trăm con chiên, nếu mất một con, mà không để chín mươi chín con nơi đồng vắng, đặng đi tìm con đã mất cho k” được sao?
4“ Nangmih khuikah mebang hlang khaw tu yakhat a khueh vetih te khui lamkah loh pakhat te poci koinih, sawmko pako te khosoek ah a hnoo tih a hmuh duela aka poci te a hnuk ah a hlak moenih a?
5Khi đã kiếm được, thì vui mừng vác nó lên vai;
5A hmuh vaengah khaw a laengpang dongah a tloeng tih omngaih ta .
6đoạn, về đến nhà, kêu bạn hữu và kẻ lân cận, mà rằng: Hãy chung vui với ta, vì ta đã tìm được con chiên bị mất.
6Im la a pawk vaengah khaw a paya rhoek neh imben rhoek te a hueh tih , Kamah taengah omngaih uh, ka tu aka poci te ka hmuh coeng,’ a tii .
7Ta nói cùng các ngươi, trên trời cũng như vậy, sẽ vui mừng cho một kẻ có tội ăn năn hơn là chín mươi chín kẻ công bình không cần phải ăn năn.
7Te vanbangla nangmih taengah ka thui ' yutnah aka ngoe pawh hlang dueng sawmko pako so lakah aka yut hlangtholh pakhat soah ni vaan ah omngaihnah a om eh .
8Hay là, có người đàn bà nào có mười đồng bạc, mất một đồng, mà không thắp đèn, quét nhà, kiếm kỹ càng cho k” được sao?
8“ Huta loh tangkanuei lung rha te a khueh. Tangkanuei pakhat te a hlong atah, hmaiim te a tok phoeiah im te a nawt, a hmuh pawt atah khaelh khaelh a tlap .
9Khi tìm được rồi, gọi bầu bạn và người lân cận mình, mà rằng: Hãy chung vui với ta, vì ta đã tìm được đồng bạc bị mất.
9A hmuh daengah, a paya rhoek neh imben rhoek te a hueh tih , “ Tangkanuei ka poci sak te ka hmuh dongah kamah taengah omngaih uh ,’ a ti pueng .
10Ta nói cùng các ngươi, trước mặt thiên sứ của Đức Chúa Trời cũng như vậy, sẽ mừng rỡ cho một kẻ có tội ăn năn.
10Te vanbangla nangmih taengah kan thui , “ hlangtholh pakhat a yut soah ni Pathen kah puencawn rhoek hmaiah omngaihnah a om,” a ti nah.
11Ngài lại phán rằng: Một người kia có hai con trai.
11Te phoeiah, “ Hlang pakhat loh capa panit a khueh .
12Người em nói với cha rằng: Thưa cha, xin chia cho tôi phần của mà tôi sẽ được. Người cha liền chia của mình cho hai con.
12Amih rhoi khuiah a noe loh a napa te , ' A pa, koe a kaekvang na hmoel te kamah m'pae laeh ,’ a ti nah. Te dongah a napa loh amih rhoi ham khosaknah te a tael pah .
13Cách ít ngày, người em tóm thâu hết, đi phương xa, ở đó, ăn chơi hoang đàng, tiêu sạch gia tài mình.
13Tedae khohnin muep a koe kolla boeih aka kool a capa a noe tah kho hla la yiin. Te phoeiah a koe te pahoi a poek tih cungpoeh cungdam la hing .
14Khi đã xài hết của rồi, trong xứ xảy có cơn đói lớn; nó mới bị nghèo thiếu,
14Boeih a hnonah phoeiah tah te rhoek pingpang ah khokha loh muep a pai thil tih, anih khaw vawt tangkhuet .
15bèn đi làm mướn cho một người bổn xứ, thì họ sai ra đồng chăn heo.
15Te dongah te pingpang kah pilnam pakhat taengah cet tih kap. Te vaengah anih te ok vuelh ham lohma la a tueih .
16Nó muốn lấy vỏ đậu của heo ăn mà ăn cho no, nhưng chẳng ai cho.
16Te vaengah ok loh a caak canghlam koi te caak ham a hue dae anih te pae uh pawh .
17Vậy nó mới tỉnh ngộ, mà rằng: Tại nhà cha ta, biết bao người làm mướn được bánh ăn dư dật, mà ta đây phải chết đói!
17Te daengah amah te a cueih koep om tih , ' A pa kah kutcoep rhoek te yet pataeng buh a coih sak uh dae kai tah khokha neh ka poci pahoi coeng .
18Ta sẽ đứng dậy trở về cùng cha, mà rằng: Thưa cha, tôi đã đặng tội với trời và với cha,
18Ka thoo vetih a pa taengla ka cet pawn ni. Amah taengah , ' A pa, vaan neh nang hmaiah ka tholh coeng .
19không đáng gọi là con của cha nữa; xin cha đãi tôi như đứa làm mướn của cha vậy.
19Na ca la khue ham khaw a koihvaih la ka om moenih, kai he na kutcoep pakhat la ng'khueh , ' ka ti nah ni ,’ a ti .
20Nó bèn đứng dậy mà về cùng cha mình. Khi còn ở đàng xa, cha nó thấy thì động lòng thương xót, chạy ra ôm lấy cổ mà hôn.
20Te dongah thoo tih a napa te a paan. Tedae a hla la a om vaengah a napa loh a hmuh tih a thinphat. Te dongah yong tih a rhawn ah a kop tih a mok .
21Con thưa cùng cha rằng: Cha ơi, tôi đã đặng tội với trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con của cha nữa.
21Te vaengah a capa loh , ' A pa, vaan neh namah hmaiah ka tholh coeng, na ca la khue ham khaw a koihvaih la ka om moenih ,’ a ti nah .
22nhưng người cha bảo đầy tớ rằng: Hãy mau mau lấy áo tốt nhất mặc cho nó; đeo nhẫn vào ngón tay, mang giày vào chân.
22Tedae a napa loh a sal rhoek te , ' Hnikul tanglue te a loe ham khaw a khuen uh lamtah anih he bai sak uh. A kut dongah kutbuen, a kho dongah khokhom buen sak uh .
23Hãy bắt bò con mập làm thịt đi. Chúng ta hãy ăn mừng,
23Vaito puetsuet te han khuen uh, te te ngawn uh. Te phoeiah uum uh sih lamtah ca uh sih .
24vì con ta đây đã chết mà bây giờ lại sống, đã mất mà bây giờ lại thấy được. Đoạn, họ khởi sự vui mừng.
24Ka ca a duek la aka om he koep hing, aka poci la om dae koep a phoe coeng dongah pahoi uum sih,” a ti nah .
25Vả, con trai cả đang ở ngoài đồng. Khi trở về gần đến nhà, nghe tiếng đàn ca nhảy múa,
25Te vaengah lohma ah aka om a capa a ham te, im vat ham pha tih toembael neh a laam uh te a yaak .
26bèn gọi một đầy tớ mà hỏi cớ gì.
26Te dongah camoe pakhat a khue tih tekah hno akam om te a dawt .
27Đầy tớ thưa rằng: Em cậu bây giờ trở về, nên cha cậu đã làm thịt bò con mập, vì thấy em về được mạnh khỏe.
27Te long te anih taengah , ' Na mana te ha pawk coeng. Te dongah na pa loh vaito puetsuet te a ngawn tih anih te sading la a doe ,’ a ti nah .
28Con cả liền nổi giận, không muốn vào nhà. Vậy cha nó ra khuyên nó vào.
28Te dongah kosi a hong tih kun ham ngaih pawh. Tedae a napa tah cet tih anih te a hloep .
29Nhưng nó thưa cha rằng: Nầy, tôi giúp việc cha đã bấy nhiêu năm, chưa từng trái phép, mà cha chẳng hề cho tôi một con dê con đặng ăn chơi với bạn hữu tôi.
29Tedae a napa te a doo tih , ' Kum, heyet na taengah sal ka bi tih na olpaek ka poe moenih he. Tedae kai ham tah ka paya neh uum hamla maae pataeng nan paek moenih .
30Nhưng nay con của cha kia, là đứa đã ăn hết gia tài cha với phường điếm đĩ rồi trở về, thì cha vì nó làm thịt bò con mập!
30Tedae hlanghalh rhoek neh na khosaknah aka yoop na capa tah ha pawk vaengah, vaito puetsuet te anih ham na ngawn pah ,’ a ti nah .
31Người cha nói rằng: Con ơi, con ở cùng cha luôn, hết thảy của cha là của con.
31Tedae a napa loh amah te , “ Camoe aw, nang tah kai taengah rhawp na om tih, kai koe boeih he nang hut coeng ni .
32Nhưng thật nên dọn tiệc và vui mừng, vì em con đây đã chết mà lại sống, đã mất mà lại thấy được.
32Tedae uum vaengah khaw omngaih ham a kuek ta. Na mana tah aka duek la om coeng dae ha hing koep, poci coeng dae koep ha phoe ,’ a ti,” a ti nah.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.