Lu 6
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Nhằm ngày Sa-bát, Đức Chúa Jêsus đi qua giữa đồng lúa mì, môn đồ bứt bông lúa, lấy tay vò đi và ăn.
1EIA kekahi, a hala ka Sabati mua, a i ka lua, hele ae la ia ma ka mahina hua palaoa; a ohi iho la kana mau haumana i na huhui hua palaoa, anaanai iho la iloko o na lima, ai iho la.
2Có mấy người Pha-ri-si nói rằng: Sao các ngươi làm điều không nên làm trong ngày Sa-bát?
2Olelo ae la kekahi poe Parisaio ia lakou, No ke aha la oukou e hana nei i ka mea ku pono ole ke hana i na la Sabati?
3Đức Chúa Jêsus phán rằng: Vậy các ngươi chưa đọc chuyện vua Đa-vít làm trong khi vua cùng kẻ đi theo bị đói sao?
3Olelo mai la o Iesu ia lakou, i mai la, Aole anei oukou i heluhelu i ka mea o Davida i hana'i i kona pololi ana, a me ka poe me ia;
4Thể nào vua vào đền Đức Chúa Trời, lấy bánh bày ra mà ăn, và cho kẻ đi theo ăn nữa, dầu là bánh chỉ các thầy tế lễ mới được phép ăn thôi?
4I kona komo ana iloko o ka hale o ke Akua, a lalau iho la i ka berena hoike, a ai iho la, a haawi hoi na ka poe me ia; aole hoi i kupono ke ai ia mea, o ka poe kahuna wale no?
5Ngài lại phán rằng: Con người cũng là Chúa ngày Sa-bát.
5I mai la oia ia lakou, O ke Keiki a ke kanaka, oia hoi ka Haku no ka Sabati.
6Một ngày Sa-bát khác, Đức Chúa Jêsus vào nhà hội dạy dỗ. Tại đó, có một người bàn tay hữu bị teo.
6Eia kekahi, i kekahi la Sabati aku, hele ae la oia iloko o ka halehalawai a ao mai la; a ilaila ke kanaka ua maloo kona lima akau.
7Vả, các thầy thông giáo và người Pha-ri-si chăm chỉ xem Ngài, coi thử Ngài có chữa bịnh trong ngày Sa-bát chăng, để tìm dịp mà cáo Ngài.
7Hakilo aku la ia ia na kakauolelo a me na Parisaio e hoola paha ia i ka la Sabati, i loaa'i ia lakou ka mea e hoopii ai ia ia.
8Nhưng Ngài biết ý tưởng họ, nên phán cùng người teo tay rằng: Hãy chờ dậy, đứng giữa chúng ta. Người ấy chờ dậy, và đứng lên.
8Ua ike oia i ko lakou manao, i mai la ia i ke kanaka nona ka lima maloo, E ala'e, a e ku mawaena. Ala ae la hoi ia, ku iho la.
9Đức Chúa Jêsus liền phán cùng họ rằng: Ta hỏi các ngươi: Trong ngày Sa-bát, nên làm điều lành hay là làm điều dữ, nên cứu người hay là giết người?
9I mai la o Iesu ia lakou, E ninau aku au ia oukou i kekahi mea; He pono i na la Sabati, o ka hana maikai anei, o ka hana ino paha? o ka hoola anei, o ka pepehi paha?
10Đoạn, Ngài lấy mắt liếc khắp mọi người xung quanh mình, rồi phán cùng người bịnh rằng: Hãy giơ tay ra. Người giơ ra, thì tay được lành.
10Nana ae la oia ia lakou a pau, i mai la i ua kanaka la, E kikoo i kou lima. A pela ia i hana'i, a ola iho la ia lima ona e like me kekahi
11Nhưng họ giận lắm, bèn bàn cùng nhau về việc mình có thể xử với Đức Chúa Jêsus cách nào.
11A piha iho la lakou i ka huhu. Kukakuka lakou ia lakou iho i ka mea e hana aku ai lakou ia Iesu.
12Trong lúc đó, Đức Chúa Jêsus đi lên núi để cầu nguyện; và thức thâu đêm cầu nguyện Đức Chúa Trời.
12Eia kekahi, ia mau la no, hele aku la ia i ka mauna e pule; hoomau iho la oia i ka pule i ke Akua ia po a ao.
13Đến sáng ngày, Ngài đòi môn đồ đến, chọn mười hai người, gọi là sứ đồ:
13A ao ae la, hea mai la ia i kana poe haumana; a wae iho la oia he umikumamalua o lakou; a kapa iho la oia ia lakou, he poe lunaolelo;
14Si-môn, Ngài đặt tên là Phi-e-rơ, Anh-rê em ruột của Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng, Phi-líp và Ba-thê-lê-my,
14O Simona ka mea ana i kapa hou ai o Petero, a o Anederea kona kaikaina, a o Iakobo a me Ioane, o Pilipo a me Baretolomaio,
15Ma-thi-ơ và Thô-ma, Gia-cơ con của A-phê, Si-môn gọi là Xê-lốt,
15O Mataio a me Toma, o Iakobo na Alapaio, a me Simona i kapaia o Zelote,
16Giu-đê con của Gia-cơ và Giu-đa ỗch-ca-ri-ốt là kẻ phản Ngài.
16O Iuda ko Iakobo a me Iuda Isekariota, oia hoi ka mea kumakaia.
17Kế đó, Ngài cùng môn đồ xuống, dừng lại nơi đồng bằng. ỳ đó, có nhiều môn đồ Ngài cùng đoàn dân rất đông từ khắp xứ Giu-đê, thành Giê-ru-sa-lem, và miền biển Ty-rơ, Si-đôn mà đến, để nghe Ngài dạy và cho được chữa lành bịnh mình.
17A iho mai la oia me lakou, ku iho la ma kahi papu, a o kana poe haumana, a me na kanaka he lehulehu no Iudea a pau, no Ierusalema hoi, a no kahakai o Turo a me Sidona, hele aku lakou e hoolohe ia ia, a e hoolaia hoi ko lakou mau mai;
18Những kẻ mắc tà ma khuấy hại cũng đều được lành.
18A me ka poe i hoomaauia e na uhane ino; a hoolaia'e la lakou.
19Cả đoàn dân đến kiếm cách rờ Ngài, vì từ Ngài có quyền phép ra, chữa lành hết mọi người.
19Imi ae la ka ahakanaka a pau e hoopa ia ia; no ka mea, noloko mai ona i puka mai ai ka mana, a i hoola hoi ia lakou a pau.
20Đức Chúa Jêsus bèn ngước mắt ngó môn đồ, mà phán rằng: Phước cho các ngươi nghèo khó, vì nước Đức Chúa Trời thuộc về các ngươi!
20Alawa ae la kona mau maka maluna o kana poe haumana, i mai la ia, Pomaikai oukou ka poe ilihune; no ka mea, no oukou ke aupuni o ke Akua.
21Phước cho các ngươi hiện đang đói, vì sẽ được no đủ! Phước cho các ngươi hiện đang khóc lóc, vì sẽ được vui mừng!
21Pomaikai oukou ka poe pololi ano; no ka mea, e hoomaonaia oukou. Pomaikai oukou ka poe uwe ano; no ka mea, e olioli auanei oukou.
22Phước cho các ngươi khi vì cớ Con người, thiên hạ sẽ ghét, đuổi, mắng nhiếc các ngươi, bỏ tên các ngươi như đồ ô uế!
22E pomaikai ana oukou i ka wa e inaina mai ai na kanaka ia oukou, a e hookaawale ai hoi ia oukou, a e hoino ai hoi, a e kiola aku ai hoi i ko oukou mau inoa me he mea ino la, no ke Keiki a ke kanaka.
23Ngày đó, hãy vui vẻ, nhảy nhót và mừng rỡ, vì phần thưởng các ngươi trên trời sẽ lớn lắm; bởi tổ phụ họ cũng đối đãi các đấng tiên tri dường ấy.
23E hauoli hoi oukou ia la, a e lelele iho i ka olioli; no ka mea, eia hoi, he nui no ko oukou uku ma ka lani. Pela no hoi i hana aku ai ko lakou poe makua i ka poe kaula.
24Song, khốn cho các ngươi và người giàu có, vì đã được sự yên ủi của mình rồi!
24Aka, poino oukou ka poe waiwai! no ka mea, ua loaa e ia oukou ko oukou oluolu.
25Khốn cho các ngươi là kẻ hiện đang no, vì sẽ đói! Khốn cho các ngươi là kẻ hiện đang cười, vì sẽ để tang và khóc lóc!
25Poino oukou ka poe maona! no ka mea, e pololi auanei oukou. Poino oukou ka poe akaaka ano! no ka mea, e u auanei oukou a e uwe hoi.
26Khốn cho các ngươi, khi mọi người sẽ khen các ngươi, vì tổ phụ họ cũng xử với các tiên tri giả như vậy!
26E poino auanei oukou i ka wa e olelo maikai mai ai na kanaka a pau no oukou! no ka mea, pela no i hana aku ai ko lakou mau makua i ka poe kaula hoopunipuni.
27Nhưng ta phán cùng các ngươi, là người nghe ta: Hãy yêu kẻ thù mình, làm ơn cho kẻ ghét mình,
27Aka, ke kauoha aku nei au ia oukou ka poe e lohe mai ana, e aloha aku i ko oukou poe enemi, e hana maikai aku hoi i ka poe inaina mai ia oukou.
28chúc phước cho kẻ rủa mình, và cầu nguyện cho kẻ sỉ nhục mình.
28E hoomaikai aku i ka poe i hoino mai ia oukou, e pule aku hoi no ka poe i hoohewa wale mai ia oukou.
29Ai vả ngươi má bên nầy, hãy đưa luôn má bên kia cho họ; còn nếu ai dựt áo ngoài của ngươi, thì cũng đừng ngăn họ lấy luôn áo trong.
29A i ka mea e kui mai ia oe ma kekahi papalina, e haawi hou ae i kekahi; a i ka mea e lawe aku i kou aahu, mai aua i kou kapa komo.
30Hễ ai xin, hãy cho, và nếu có ai đoạt lấy của các ngươi, thì đừng đòi lại.
30E haawi hoi oe i kela mea i keia mea ke noi mai ia oe. A i ka mea lawe aku i kou waiwai, mai noi hou aku oe.
31Các ngươi muốn người ta làm cho mình thể nào, hãy làm cho người ta thể ấy.
31E like me ko oukou makemake e hana mai na kanaka ia oukou, pela hoi oukou e hana aku ai ia lakou.
32Nếu các ngươi yêu kẻ yêu mình, thì có ơn chi? Người có tội cũng yêu kẻ yêu mình.
32A ina e aloha aku oukou i ka poe i aloha mai ia oukou, heaha hoi ka uku no oukou? no ka mea, ua aloha aku ka poe hewa i ka poe i aloha mai ia lakou.
33Nếu các ngươi làm ơn cho kẻ làm ơn mình, thì có ơn chi? Người có tội cũng làm như vậy.
33A ina e hana maikai aku oukou i ka poe i hana maikai mai ia oukou, heaha hoi ka uku no oukou? no ka mea, ua hana no pela ka poe hewa.
34Nếu các ngươi cho ai mượn mà mong họ trả, thì có ơn chi? Người có tội cũng cho người có tội mượn, để được thâu lại y số.
34A ina e haawi aku oukou i ka poe a oukou e manao ai e haawi hou mai ana ia oukou, heaha hoi ka uku no oukou? no ka mea, ua haawi aku ka poe hewa i ka poe hewa i loaa hou mai ai ia lakou ka mea like.
35Song các ngươi hãy yêu kẻ thù mình; hãy làm ơn, hãy cho mượn, mà đừng ngã lòng. Vậy, phần thưởng của các ngươi sẽ lớn, và các ngươi sẽ làm con của Đấng Rất Cao, vì Ngài lấy nhân từ đối đãi kẻ bạc và kẻ dữ.
35Aka, e aloha aku i ko oukou poe enemi, e hana maikai aku, a e haawi aku, me ka manao ole i ka uku hou ia; alaila e nui ka uku no oukou, e lilo hoi oukou i mau keiki na ka Mea kiekie loa; no ka mea, he lokomaikai mai oia i ka poe aloha ole, a me ka poe hewa.
36Hãy thương xót như Cha các ngươi hay thương xót.
36E lokomaikai hoi oukou, e like me ko oukou Makua i lokomaikai mai ai.
37Đừng đoán xét ai, thì các ngươi khỏi bị đoán xét; đừng lên án ai, thì các ngươi khỏi bị lên án; hãy tha thứ, người sẽ tha thứ mình.
37Mai hoino aku, alaila, aole oukou e hoinoia mai: mai hoahewa aku, alaila, aole oukou e hoahewaia mai. E kala aku, a e kalaia mai oukou.
38Hãy cho, người sẽ cho mình; họ sẽ lấy đấu lớn, nhận, lắc cho đầy tràn, mà nộp trong lòng các ngươi; vì các ngươi lường mực nào, thì họ cũng lường lại cho các ngươi mực ấy.
38E haawi aku, a e haawiia mai ia oukou, me ka ana pono i kaomiia iho, i pili pu i ka hooluliluliia a hanini iwaho, e haawi mai ai lakou iloko o ko oukou poli: no ka mea, me ka ana a oukou e ana aku ai, pela no e anaia mai ai no oukou.
39Ngài cũng phán cùng họ một thí dụ rằng: Kẻ mù có thể dắt kẻ mù được chăng? Cả hai há chẳng cùng té xuống hố sao?
39Olelo mai la oia i ka olelonane ia lakou; E hiki anei i ka makapo ke alakai i ka makapo? Aole anei laua e haule pu iho i ka lua?
40Môn đồ không hơn thầy; nhưng hễ môn đồ được trọn vẹn thì sẽ bằng thầy mình.
40Aole ka haumana maluna o kana kumu; aka, o ka haumana i pono e like pu ia me kana kumu.
41Sao ngươi nhìn thấy cái rác trong mắt anh em mình, mà không thấy cây đà trong mắt ngươi?
41No ke aha la oe e nana aku ai i ka pula iki iloko o ka maka o kou hoahanau, aole hoi oe i ike i ke kaola iloko o kou maka iho?
42Sao ngươi nói được với anh em rằng: Anh ơi, để tôi lấy cái rác trong mắt anh ra, còn ngươi, thì không thấy cây đà trong mắt mình? Hỡi kẻ giả hình, hãy lấy cây đà ra khỏi mắt mình trước đã, rồi mới thấy rõ mà lấy cái rác ra khỏi mắt anh em.
42A, pehea la e hiki ai ia oe ke olelo aku i kou hoahanau, E ka hoahanau, ho mai na'u e unuhi ka pula iki oloko o kou maka, aole hoi oe i ike i ke kaola iloko o kou maka iho? E ka hookamani, e hoolei mua ae oe i ke kaola mai loko ae o kou maka iho, alaila e ike lea oe i ka unuhi i ka pula iki oloko o ka maka o kou hoahanau.
43Cây sanh trái xấu không phải là cây tốt, cây sanh trái tốt không phải là cây xấu;
43No ka mea, aole hoohua mai ka laau maikai i ka hua ino; aole hoi hoohua mai ka laau ino i ka hua maikai.
44vì hễ xem trái thì biết cây. Người ta không hái được trái vả nơi bụi gai, hay là trái nho nơi chòm kinh cước.
44No ka mea, ua ikeia ka laau ma kona hua iho. Aole i ohiia mai na hua fiku, mai ke kakalaioa mai, aole hoi i ohiia mai na hua waina mai ka laau ooi mai.
45Người lành bởi lòng chứa điều thiện mà phát ra điều thiện, kẻ dữ bởi lòng chứa điều ác mà phát ra điều ác; vì do sự đầy dẫy trong lòng mà miệng nói ra.
45O ke kanaka maikai, ua lawe mai ia i ka mea maikai noloko mai o ka waiwai maikai o kona naau; a o ke kanaka ino, ua lawe mai ia i ka mea ino noloko mai o ka waiwai ino o kona naau; no ka mea, no ka piha o ka naau i olelo mai ai kona waha.
46Sao các ngươi gọi ta: Chúa, Chúa, mà không làm theo lời ta phán?
46No ke aha la oukou i hea mai ai ia'u, E ka Haku, e ka Haku, me ka malama ole i ka mea a'u e kauoha aku ai?
47Ta sẽ chỉ cho các ngươi biết kẻ nào đến cùng ta, nghe lời ta, và làm theo, thì giống ai.
47O ka mea i hele mai io'u nei, a i hoolohe mai i ka'u mau olelo, a i malama hoi ia mau mea, e hoike aku au ia oukou i kona mea e like ai:
48Kẻ ấy giống như một người kia cất nhà, đào đất cho sâu, xây nền trên vầng đá: nước tràn lan, dòng nước chảy mạnh xô vào nhà đó, nhưng không xô động được, vì đã cất chắc chắn.
48Ua like ia me ke kanaka i kukulu i ka hale, ua eli ia a hohonu, ua hoonoho i ke kumu ma ka pohaku; a nui mai la ka wai kahe, a pa ikaika mai ka wai kahe i ua hale la, aole hiki ke hoonaueue aku ia, no ka mea, ua hookumuia ia ma ka pohaku.
49Song kẻ nào nghe lời ta mà không làm theo, thì giống như một người kia cất nhà trên đất không xây nền: dòng nước chảy mạnh xô vào nhà đó, tức thì nhà sụp xuống, và sự hư hại lớn lao.
49Aka, o ka mea i hoolohe, aole hoi i malama, ua like ia me ke kanaka i kukulu i ka hale maluna o ka lepo, me ke kumu ole; malaila i pa ikaika mai ai ka wai kahe, a hiolo koke iho la no ia, a nui iho la ka hiolo ana o ua hale la.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.