Giôs
Chapter 10
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Khi A-đô-ni-Xê-đéc, vua Giê-ru-sa-lem, hay rằng Giô-suê đã chiếm lấy thành A-hi, và tận diệt nó đi, đãi thành A-hi và vua nó như người đã đãi Giê-ri-cô và vua nó, lại hay rằng dân Ga-ba-ôn đã lập hòa với dân Y-sơ-ra-ên và ở cùng họ,
1Joshua mah Ai vangpui to kawbangmaw lak moe paro, tito Jerusalem siangpahrang Adoni-Zedek mah thaih; Jeriko vangpui hoi anih ih siangpahrang nuiah sak ih baktih toengah, Ai vangpui hoi anih ih siangpahrang nuiah doeh a sak; Gibeon kaminawk loe Israel kaminawk hoi angdaehhaih sak o moe, nihcae khaeah oh o, tiah doeh a thaih.
2thì người lấy làm sợ hãi lắm; vì Ga-ba-ôn là một thành lớn, một đế đô thật; lại lớn hơn thành A-hi, và cả dân sự nó đều là người mạnh dạn.
2To pongah nihcae loe paroeai zit o; Gibeon loe kalen parai vangpui ah oh moe, siangpahrang ohhaih vangpui maeto ah oh; to vangpui loe Ai vangpui pongah len kue, vangpui thung kaom kaminawk loe misatuh thaih kami ah oh o.
3Vậy, A-đô-ni-Xê-đéc, vua thành Giê-ru-sa-lem, sai người đi nói cùng Hô-ham, vua Hếp-rôn, cùng Phi-ram, vua Giạt-mút, cùng Gia-phia, vua La-ki, cùng Đê-bia, vua Eùc-lôn, mà rằng:
3To pongah Jerusalem siangpahrang Adoni-Zedek mah Hebron siangpahrang Hoham, Jarmuth siangpahrang Piram, Lakhish siangpahrang Japhia hoi Eglon siangpahrang Debir khaeah kami to patoeh.
4Hãy đi lên đến ta mà tiếp cứu ta, và đánh thành Ga-ba-ôn; vì nó đã lập hòa cùng Giô-suê và dân Y-sơ-ra-ên.
4Gibeon vangpui loe Joshua hoi Israel kaminawk hoiah angdaehhaih sak o pongah, anih tuk hanah kai khaeah angzo o tahang ah loe, na bomh oh, tiah a naa.
5Vậy, năm vua A-mô-rít, tức là vua Giê-ru-sa-lem, vua Hếp-rôn, vua Giạt-mút, vua La-ki, và vua Eùc-lôn nhóm hiệp, kéo lên cùng hết thảy quân lính mình, đóng trại trước Ga-ba-ôn, và hãm đánh thành.
5To pongah Amor acaeng siangpahrang pangato ah kaom, Jerusalem, Hebron, Jarmuth, Lakhish hoi Eglon ih siangpahrangnawk nawnto amkhueng o; angmacae hoi angmacae ih misatuh kaminawk boih nawnto angthawk o moe, Gibeon vangpui taengah atai o pacoengah, vangpui to a tuk o.
6Người Ga-ba-ôn sai kẻ đến nói cùng Giô-suê tại trại quân Ghinh-ganh, mà rằng: Xin chớ bỏ tôi tớ ông; hãy mau lên đến cùng chúng tôi, giải thoát và tiếp cứu chúng tôi vì hết thảy vua A-mô-rít trong núi đã hiệp lại nghịch chúng tôi.
6To naah Gibeon kaminawk mah Gilgal ah kaom Joshua khaeah kami patoeh moe, Na tamnanawk hae khen sut hmah; kaicae khaeah karangah angzo oh loe, na pahlong o raeh; mae nuiah kaom Amor siangpahrangnawk boih angbomh o moe, kaicae tuk hanah angzoh o boeh, tiah a naa o.
7Vậy, Giô-suê ở Ghinh-ganh đi lên với hết thảy quân lính và những người mạnh dạn.
7To pongah Joshua loe, angmah ih misatuh kaminawk boih, misatuh kop kaminawk boih hoi nawnto Gilgal hoiah caeh o tahang.
8Đức Giê-hô-va phán cùng Giô-suê rằng: Chớ sợ, vì ta đã phó chúng nó vào tay ngươi, chẳng còn một ai đứng nổi trước mặt ngươi được.
8Angraeng mah Joshua khaeah, Nihcae to zii hmah; nihcae to na ban ah kang paek boeh; kami maeto doeh na hmaa ah angdoe o thai mak ai, tiah a naa.
9Vậy, Giô-suê ở Ghinh-ganh đi trọn đêm, rồi chợt đến áp chúng nó.
9Joshua loe Gilgal vangpui hoiah aqum puek caeh, nihcae to dawnrai kaom ah tuk moe, pazawk.
10Đức Giê-hô-va làm cho chúng nó vỡ chạy trước mặt Y-sơ-ra-ên, khiến cho bị đại bại gần Ga-ba-ôn; Y-sơ-ra-ên rượt đuổi chúng nó theo đường dốc Bết-Hô-rôn, và đánh họ cho đến A-xê-ca và Ma-kê-đa.
10Angraeng mah nihcae to Israel kaminawk hmaa ah palungmitsak, paroeai kaminawk to Gibeon vangpui taengah hum o; Israel caanawk mah Beth Horon caehhaih loklam karoek to nihcae to patom o moe, Azekah hoi Makkedah loklam karoek to hum o.
11Khi chúng nó chạy trốn trước mặt Y-sơ-ra-ên và xuống dốc Bết-Hô-rôn, thì Đức Giê-hô-va khiến đá lớn từ trời rớt xuống cả đường cho đến A-xê-ca, và chúng nó đều bị chết. Số những người bị chết về mưa đá nhiều hơn số những người bị dân Y-sơ-ra-ên giết bằng gươm.
11Nihcae loe Israel kaminawk hmaa hoiah cawnh o, Beth Horon caehhaih loklam ah caeh o tathuk naah, Angraeng mah van hoiah qaetui kamkhawk kraksak moe, a duek o; Israel kaminawk mah sumsen hoi hum ih kami pongah qaetui kamkhawk mah vah maat ih kaminawk to pop o kue.
12Ngày mà Đức Giê-hô-va phó dân A-mô-rít cho dân Y-sơ-ra-ên, thì Giô-suê thưa cùng Đức Giê-hô-va tại trước mặt Y-sơ-ra-ên, mà rằng: Hỡi mặt trời, hãy dừng lại trên Ga-ba-ôn; Hỡi mặt trăng, hãy ngừng lại trên trũng A-gia-lôn!
12Angraeng mah Israel kaminawk ban ah Amor kaminawk paek na niah; Joshua mah Israel kaminawk hmaa ah, Aw ni, Gibeon vangpui nuiah angdoe raeh; Aw khrah, Aijalon azawn nuiah anghak raeh, tiah thuih.
13Mặt trời bèn dừng, mặt trăng liền ngừng, Cho đến chừng dân sự đã báo thù quân nghịch mình. Điều đó há không có chép trong sách Gia-sa sao? Mặt trời dừng lại giữa trời, và không vội lặn ước một ngày trọn.
13To pongah kaminawk mah angmacae ih misanawk nuiah lu la boih ai karoek to, ni to anghak moe, khrah doeh anghak sut. Ni loe van um ah anghak sut, nito thung amzaita hoiah laemh tathuk, tiah Jasher cabu thungah tarik ih om ai maw?
14Từ trước và về sau, chẳng hề có ngày nào như ngày đó, là ngày Đức Giê-hô-va có nhậm lời của một loài người; vì Đức Giê-hô-va chiến cự cho dân Y-sơ-ra-ên.
14Angraeng mah kami maeto ih lok to tahngaih pae; Angraeng mah Israel kaminawk han misatuk pae pongah, hae baktih ani loe canghni ah om vai ai, om doeh om let mak ai boeh.
15Rồi Giô-suê và cả Y-sơ-ra-ên trở về trại quân Ghinh-ganh.
15To pacoengah Joshua loe Israel kaminawk hoi nawnto atai o haih Gilgal ah amlaem o let.
16Vả, năm vua kia đã chạy trốn, và ẩn trong một hang đá tại Ma-kê-đa.
16Toe siangpahrang pangatonawk loe cawnh o moe, Makkedah thlungkhaw thungah anghawk o.
17Có người thuật cho Giô-suê hay điều đó, mà rằng: Người ta có gặp năm vua núp trong một hang đá tại Ma-kê-đa.
17Makkedah thlungkhaw thungah siangpahrang pangatonawk anghawk o, tiah Joshua khaeah thuih pae.
18Giô-suê bèn dạy rằng: Hãy lăn đá lớn lấp miệng hang lại, và cắt người canh giữ.
18To naah Joshua mah, Thlungkhaw to kalen parai thlung hoiah kraeng thuih khoep hanah, kaminawk to patoeh mae toepsak:
19Còn các ngươi chớ dừng lại, phải rượt theo quân nghịch, xông đánh phía sau; đừng để chúng nó vào thành chúng nó; vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi đã phó chúng nó vào tay các ngươi.
19toe anghngai o duem hmah! Na misanawk to patom oh; na kae o ih kaminawk to hum oh; vangpui thung akun o sak hmah; na Angraeng Sithaw mah nihcae to nangcae ban ah paek boeh, tiah a naa.
20Khi Giô-suê và dân Y-sơ-ra-ên đã đánh chúng nó bị bại rất lớn, cho đến nỗi tuyệt diệt đi, và khi những người trong chúng nó đã được thoát khỏi, rút ở lại trong thành kiên cố,
20Joshua hoi Israel kaminawk mah paroeai kaminawk to hum o, maeto doeh tahmat o ai; toe anghmat kami loe sipae kacakah thungh ih vangpui thungah akun o.
21thì cả dân sự trở về với Giô-suê bình yên nơi trại quân tại Ma-kê-đa, chẳng một ai dám khua môi nghịch cùng dân Y-sơ-ra-ên.
21Kaminawk boih loe Joshua ohhaih Makkedah ah lunghoih ta hoiah amlaem o; mi mah doeh Israel kaminawk kasae thui o ai.
22Bấy giờ, Giô-suê nói rằng: Hãy mở miệng hang, đem năm vua đó ra, rồi dẫn đến cho ta.
22Joshua mah thlungkhaw to paong oh loe, siangpahrang pangatonawk to kai khaeah na hoi oh, tiah a naa.
23Họ làm như vậy, đưa năm vua ra khỏi hang đá, và dẫn đến cho người, tức là vua Giê-ru-sa-lem, vua Hếp-rôn, vua Giạt-mút, vua La-ki, và vua Eùc-lôn.
23To pongah nihcae mah Jerusalem siangpahrang, Hebron siangpahrang, Jarmuth siangpahrang, Lakhish siangpahrang hoi Eglon siangpahrang pangatonawk to anih khaeah caeh o haih.
24Khi họ đã dẫn năm vua này đến cùng Giô-suê, thì Giô-suê gọi hết thảy người nam của Y-sơ-ra-ên, và nói cùng các binh tướng đã đi với mình, mà rằng: Hãy lại gần, đạp chân lên cổ của các vua này. Họ bèn đến gần, đạp chân trên cổ các vua ấy.
24To siangpahrang pangatonawk Joshua khaeah caeh o haih pacoengah, Joshua mah Israel kaminawk boih to kawk moe, angmah hoi nawnto kaom misatuh angraengnawk khaeah, Hae ah angzo oh, khok hoiah hae siangpahrangnawk ih tahnong to cawh oh, tiah a naa. Israel kaminawk loe angzoh o moe, nihcae ih tahnong to khok hoiah cawh o.
25Đoạn, Giô-suê nói cùng họ rằng: Chớ ngại, và chớ kinh khủng; khá vững lòng bền chí, vì Đức Giê-hô-va sẽ làm như vậy cho hết thảy thù nghịch các ngươi, mà các ngươi sẽ chiến cự.
25Joshua mah nihcae khaeah, Zii o hmah; palungboeng o hmah; na thacak o sak loe, misahoih oh; Angraeng mah na tuk o ih misanawk nuiah hae tiah sah tih, tiah a naa.
26Sau rồi, Giô-suê đánh giết các vua ấy, biểu đem treo trên năm cây; năm vua ấy bị treo trên cây cho đến chiều tối.
26To pacoengah Joshua mah siangpahrangnawk to hum; nihcae to thing pangato pongah a bangh; nihcae to niduem khoek to thing pongah a bangh.
27Khi mặt trời chen lặn, Giô-suê biểu người ta hạ thây xuống khỏi cây; họ liệng những thây trong hang đá, là chỗ các vua ấy đã núp, rồi lấy những đá lớn lấp miệng hang lại, hãy còn cho đến ngày nay.
27Niduem naah loe Joshua mah, Thing nui ah kangbang nihcae ih qok to laksak moe, angmacae anghawkhaih thlungkhaw thungah vahsak let; thlungkhaw to kalen parai thlung hoiah kraeng o khoep, to thlungnawk loe vaihni ni khoek to oh vop.
28Trong ngày đó, Giô-suê cũng chiếm lấy Ma-kê-đa, và dùng lưỡi gươm giết cả thành cùng vua nó. Người tận diệt thành, luôn hết thảy kẻ ở trong, không để thoát một ai. Người đãi vua Ma-kê-đa như đã đãi vua Giê-ri-cô.
28To na niah Joshua mah Makkedah vangpui to tuk moe, a lak pacoengah, siangpahrang to sumsen hoiah hum; siangpahrang hoi athung ah kaom kaminawk boih maeto doeh pathlung ai, pathuk boih; Jeriko siangpahrang nuiah sak ih hmuen baktih toengah Makkedah siangpahrang nuiah doeh a sak.
29Đoạn, Giô-suê cùng cả Y-sơ-ra-ên ở Ma-kê-đa đi qua Líp-na, và hãm đánh Líp-na.
29To pacoengah Joshua hoi anih taengah kaom kaminawk boih, Makkedah vangpui hoiah Libnah ah caeh o moe, Libnah vangpui to tuk o let.
30Đức Giê-hô-va cũng phó Líp-na cùng vua nó vào tay Y-sơ-ra-ên; họ dùng lưỡi gươm diệt thành, luôn hết thảy kẻ ở trong đó, chẳng để thoát một ai. Người đãi vua thành này y như đã đãi vua Giê-ri-cô vậy.
30Angraeng mah to vangpui hoi a siangpahrang to Israel kaminawk ban ah paek; to pongah Joshua mah vangpui hoi athung ah kaom kaminawk boih, maeto doeh anghmat ai ah, sumsen hoiah hum king; Jeriko siangpahrang nuiah sak ih baktih toengah, to siangpahrang nuiah doeh a sak.
31Kế ấy, Giô-suê cùng cả Y-sơ-ra-ên ở Líp-na đi qua La-ki, đóng trại đối cùng thành, và hãm đánh nó.
31To pacoengah Joshua hoi Israel kaminawk boih Libnah vangpui hoiah tacawt o moe, Lakhish vangpui ah caeh o; to ah atai o pacoengah, to vangpui to a tuk o.
32Đức Giê-hô-va phó La-ki vào tay Y-sơ-ra-ên; ngày thứ hai họ chiếm lấy thành, dùng lưỡi gươm diệt thành với những người ở trong, cũng y như đã làm cho Líp-na vậy.
32Angraeng mah Lakhish to Israel kaminawk ban ah paek pongah, ni hnetto naah vangpui to a lak o; Libnah vangpui ah sak ih baktih toengah, to vangpui hoi athung ah kaom kaminawk to sumsen hoiah hum o boih.
33Bấy giờ, Hô-ram, vua Ghê-xe, đi lên tiếp cứu La-ki; Giô-suê đánh bại người và dân sự người, đến đỗi không còn để ai thoát khỏi.
33To naah Gezer siangpahrang Horam loe Lakhish vangpui abom hanah angzoh; toe Joshua mah anih hoi angmah ih misatuh kaminawk to maeto doeh anghmat ai ah tamit boih.
34Đoạn, Giô-suê cùng Y-sơ-ra-ên ở La-ki đi qua Eùc-lôn, đóng trại đối ngang thành, và hãm đánh nó.
34Joshua hoi anih taengah kaom Israel kaminawk boih loe, Lakhish hoiah Eglon ah caeh o; to ah ohhaih ahmuen taqawt o moe, to vangpui to a tuk o.
35Chính ngày đó, họ chiếm lấy thành, dùng lưỡi gươm diệt nó đi. Trong ngày đó, Giô-suê tận diệt thành với hết thảy người ở trong đó, y như người đã làm cho La-ki vậy.
35To na niah vangpui to lak o moe, athung ah kaom kaminawk to, Lakhish vangpui ah sak ih baktih toengah, sumsen hoiah hum o boih.
36Kế đó, Giô-suê cùng cả Y-sơ-ra-ên từ Eùc-lôn đi lên Hếp-rôn, và hãm đánh nó.
36Joshua hoi Israel kaminawk boih, Eglon hoi Hebron ah caeh o tahang moe, to vangpui to a tuk o.
37Họ chiếm lấy thành, dùng lưỡi gươm diệt thành, vua, các hương thôn nó, và mọi người ở trong đó, không để thoát khỏi một ai, cũng y như người đã làm cho Eùc-lôn vậy; người tận diệt thành và các người ở trong.
37Vangpui to a lak o pacoengah, a siangpahrang, vangpuinawk hoi athung ah kaom kaminawk to, sumsen hoi hum o boih; Eglon vangpui ah sak o ih baktih toengah, vangpui hoi athung ah kaom kaminawk to kami maeto doeh pathlung ai ah hum o boih.
38Đoạn, Giô-suê cùng cả Y-sơ-ra-ên đi đến Đê-bia, và hãm đánh nó.
38Joshua hoi a taengah kaom Israel kaminawk boih, to ahmuen hoiah angqoi o moe, Debir vangpui to a tuk o.
39Người chiếm lấy thành và hương thôn nó, cùng bắt vua, dùng lưỡi gươm diệt thành, và tận diệt hết thảy những người ở trong, không để thoát khỏi một ai. Người đãi Đê-bia và vua nó, y như đã đãi Hếp-rôn, đãi Líp-na và vua nó.
39Vangpui to a lak o pacoengah, a siangpahrang hoi vangpui thungah kaom kaminawk to sumsen hoiah hum o boih; athung ah kaom kaminawk to maeto doeh anghmat ai ah hum o; Libnah vangpui hoi a siangpahrang, Hebron vangpui hoi a siangpahrang nuiah sak ih baktih toengah, Debir vangpui hoi a siangpahrang nuiah doeh a sak.
40Vậy, Giô-suê đánh toàn xứ, nào miền núi, nào miền nam, nào đồng bằng, nào những gò nỗng, và các vua mấy miền đó. Người không để thoát khỏi một ai hết; phàm vật có hơi thở thì người diệt hết đi, y như Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã truyền dặn.
40To tiah Joshua mah mae nui ah kaom praenawk to pazawk boih, aloih bangah kaom prae, azawn ah kaom prae, tuipuek ohhaih ahmuennawk hoi siangpahrangnawk to pazawk boih; Israel Angraeng Sithaw mah paek ih lok baktih toengah, hinghaih tawn kaminawk boih, maeto doeh pathlung ai ah a hum boih.
41Aáy vậy, Giô-suê đánh các vua đó từ Ca-đe-Ba-nê-a cho đến Ga-xa, và toàn xứ Gô-sen cho đến Ga-ba-ôn.
41Joshua mah Kadesh Barnea vangpui hoi Gaza vangpui karoek to, Goshen prae to lak boih pacoengah, Gibeon vangpui karoek to misa to pazawk.
42Qua một lượt thì Giô-suê bắt các vua này và chiếm lấy xứ họ, bởi vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên chinh chiến cho Y-sơ-ra-ên.
42Israel Angraeng Sithaw mah Israel kaminawk han misatuk pae pongah, Joshua mah hae ih siangpahrangnawk hae vaito tuk naah pazawk boih.
43Đoạn, Giô-suê và cả Y-sơ-ra-ên trở về trại quân ở Ghinh-ganh.
43To pacoengah Joshua loe a taengah kaom Israel kaminawk boih hoi nawnto Gilgal vangpui ah amlaem o let.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.