Giê
Chapter 28
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Baibala Hemolele (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Cũng năm ấy, lúc Sê-đê-kia, vua Giu-đa, bắt đầu trị vì, tháng năm về năm thứ tư, Ha-na-nia, con trai A-xua, tiên tri ở Ga-ba-ôn, nói với tôi trong nhà Đức Giê-hô-va, trước mặt các thầy tế lễ và cả dân sự rằng:
1I A makahiki no, i ka makamua o ke au ia Zedekia, ke alii o ka Iuda, i ka makahiki aha, i ka malama elima, olelo mai la o Hanania, ke keiki a Azura, ke kaula, i noho ma Gibeona, i mai la ia'u maloko o ka hale o Iehova, imua o ke alo o na kahuna, a me na kauaka a pau,
2Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Ta đã bẻ ách của vua Ba-by-lôn.
2Penei ka olelo ana mai a Iehova o na kaua, ke Akua o ka Iseraela, i mai la, Ua uhai au i ka auamo o ke alii o Babulona.
3Trong hai năm trọn, mọi khí mạnh của nhà Đức Giê-hô-va mà Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đã cất đi khỏi chỗ nầy và dời qua Ba-by-lôn, thì ta sẽ lại đem về trong nơi nầy.
3Maloko o keia mau makahiki alua, e hoihoi mai no wau iloko o keia wahi, i na kiaha a pau o ka hale o Iehova, na mea a Nebukaneza, ke alii o Babulona i lawe, mai keia wahi aku, a lawe hoi i Babulona.
4Đức Giê-hô-va phán: Ta lại sẽ đem Giê-cô-nia, con trai Giê-hô-gia-kim, vua Giu-đa, và mọi người Giu-đa bị bắt làm phu tù qua Ba-by-lôn, cũng đều trở về trong nơi nầy nữa; vì ta sẽ bẻ ách của vua Ba-by-lôn.
4A e lawe hou mai no wau i keia wahi ia Iekonia, i ke keiki a Iehoiakima, ke alii o ka Iuda, a me ka poe pio a pau o ka Iuda, ka poe i hele maloko o Babulona, wahi a Iehova; no ka mea, e uhai au i ka auamo o ke alii o Babulona.
5Bấy giờ, tiên tri Giê-rê-mi đáp cùng tiên tri Ha-na-nia, trước mặt các thầy tế lễ và cả dân sự đang đứng trong nhà Đức Giê-hô-va.
5Alaila, olelo mai la o Ieremia, ke kaula, ia Hanania ke kaula, imua i ke alo o na kahuna, a imua i ke alo o na kanaka a pau e ku ana maloko o ka hale o Iehova,
6Tiên tri Giê-rê-mi nói rằng: A-men, nguyền xin Đức Giê-hô-va làm như vậy! Nguyền xin Đức Giê-hô-va làm những lời ngươi đã nói tiên tri, đem những khí mạnh của nhà Đức Giê-hô-va và hết thảy những kẻ phu tù từ Ba-by-lôn trở về trong chốn nầy!
6O Ieremia, ke kaula ka i olelo mai la, Amene; ina e hana mai o Iehova pela; ina e hooko mai o Iehova i kau mau olelo au i wanana'i, e lawe hou mai, mai Babulona mai, a i keia wahi, i na kiaha o ka hale o Iehova, a me na mea a pau i lawe pio ia'ku.
7Dầu vậy, hãy nghe lời tôi nói vào tai ngươi và vào tai cả dân sự rằng:
7Aka hoi, e hoolohe oe ano i keia olelo a'u e olelo ai iloko o kou mau pepeiao, a iloko o na pepeiao o na kanaka a pau;
8Các tiên tri ở trước tôi và trước ngươi, từ xưa đã nói tiên tri về giặc giã, tai vạ, và ôn dịch cho nhiều xứ và các nước lớn.
8A o na kaula mamua o'u, a mamua ou no hoi, wanana ku e lakou, i ke kaua, a i ka hewa, a i ka mai ahulau ma na aina he nui, a ma na aupuni nui no hoi.
9Nếu tiên tri nào báo sự bình yên, mà lời mình được ứng nghiệm, thì sẽ biết tiên tri đó là thật bởi Đức Giê-hô-va sai đến!
9O ke kaula i wanana i ka maluhia, i ka wa e ko ai ka olelo a ke kaula, alaila, e ikeia ua kaula la, na Iehova io no i hoouna mai ia ia.
10Tiên tri Ha-na-nia bèn cất cái ách khỏi cổ tiên tri Giê-rê-mi, và bẻ đi.
10Alaila, lawe ae o Hanania ke kaula i ka auamo ma ka a-i o Ieremia, a uhai iho la ia.
11Đoạn, Ha-na-nia nói trước mặt cả dân sự rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Trong hai năm trọn, ta cũng sẽ bẻ cái ách của Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, khỏi cổ mọi nước như vầy. Tiên tri Giê-rê-mi bèn đi.
11A olelo mai la o Hanania imua i ke alo o na kanaka a pau, i mai la, Ke olelo mai nei o Iehova penei; Iwaena o keia mau makahiki elua, pela no wau e uhai ai i ka auamo o Nebukaneza, ke alii o Babulona, mai ka a-i o na kanaka a pau. A hele aku la o Ieremia, ke kaula i kona wahi i hele ai.
12Sai khi tiên tri Ha-na-nia đã cất cái ách khỏi cổ Giê-rê-mi, thì có lời Đức Giê-hô-va phán cùng Giê-rê-mi như vầy:
12Alaila, hiki mai la ka olelo a Iehova io Ieremia la, mahope iho o ka uhai ana o Hanania i ka auamo, mai ka a-i o ke kaula, o Ieremia, i mai la,
13Ngươi khá đi nói với Ha-na-nia rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Ngươi đã bẻ ách bằng săng: song làm ách bằng sắt mà thế lại.
13O hele, e hai aku ia Hanania, e i aku, Ke olelo mai nei o Iehova penei; Ua uhai oe i na auamo laau, aka, e hana no oe i na auamo hao ma ko lakou hakahaka.
14Vì Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Ta đã để ách bằng sắt trên cổ mọi nước nầy, đặng chúng nó phải làm tôi Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn. Vả, chúng nó phải làm tôi người, và ta đã ban các loài thú đồng cho người nữa.
14No ka mea, penei ka olelo ana mai a Iehova o na kaua, ke Akua o ka Iseraela; Ua kau no wau i ka auamo hao ma ka a-i o keia mau aina a pau, i hookauwa lakou na Nebukaneza, ke alii o Babulona, a e malama no hoi ia ia; a ua haawi no hoi au i na holoholona o ke kula nana.
15Đoạn, tiên tri Giê-rê-mi nói với tiên tri Ha-na-nia rằng: Hỡi Ha-na-nia, hãy nghe! Đức Giê-hô-va chưa hề sai ngươi, nhưng ngươi làm cho dân nầy trông cậy sự giả dối.
15Alaila, olelo mai la ke kaula, o Ieremia, ia Hanania, ke kaula, E hoolohe mai oe, e Hanania; Aole i hoouna mai o Iehova ia oe, aka, ke hoohilinai nei oe i keia poe kanaka i ka wahahee.
16Vậy nên, Đức Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta sẽ duồng ngươi khỏi mặt đất, năm nay ngươi sẽ chết vì đã nói ra sự bạn nghịch Đức Giê-hô-va.
16Nolaila, ke olelo mai nei o Iehova penei; Aia hoi, e kipaku aku no wau ia oe, mai ka honua aku; i keia makahiki e make no oe, no ka mea, ua ao mai no oe i ke kipi aku ia Iehova.
17Cũng năm ấy, tháng bảy, thì tiên tri Ha-na-nia chết.
17A make iho la o Hanania, ke kaula, ia makahiki no, i ka hiku o ka malama.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.