Giê 22
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hãy xuống cung vua Giu-đa, tại đó ngươi khá rao lời nầy,
1KE olelo mai nei o Iehova penei, E iho oe ilalo i ka hale o ke alii o ka Iuda, a e olelo malaila i keia olelo;
2mà rằng: Hỡi vua của Giu-đa, ngồi trên ngai Đa-vít, ngươi cùng tôi tớ ngươi và dân sự ngươi vào các cửa nầy, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va!
2E i aku, E hoolohe oe i ka olelo a Iehova, e ke alii o ka Iuda, ka mea noho ma ka nohoalii o Davida, o oe, a me kau poe kauwa, a me kou poe kanaka, na mea komo iloko o keia mau pukapa.
3Đức Giê-hô-va phán như vầy: hãy làm sự chánh trực và công bình; cứu kẻ bị cướp khỏi tay người ức hiếp; chớ làm sự thiệt hại cùng sự hiếp đáp cho người trú ngụ, cho kẻ mồ côi hoặc người góa bụa, và chớ làm đổ máu vô tội trong nơi nầy.
3Ke olelo mai nei o Iehova penei; E hana oukou i ka hooponopono, a me ka maikai, a e hoopakele i ka mea i haoia, mai ka lima aku o ka mea hookaumaha: mai hana i ka mea i hewa, mai hana i ka mea kolohe i ka malihini, a i ke kieki makuaole, a i ka wahine kanemake: mai hookahe hoi i ke koko hala ole ma keia wahi.
4Vì nếu các ngươi thật vâng làm lời nầy, thì sẽ có vua ngồi trên ngai Đa-vít, cỡi xe và ngựa, người cùng tôi tớ người và dân người do các cửa nhà nầy mà vào.
4No ka mea, ina hana io oukou i keia, alaila, e komo mai no ma na pukapa o keia hale, he poe alii, e noho ana ma ka nohoalii o Davida, e holo ana hoi maloko o na kaakaua, a maluna o na lio, oia, a me kana poe kauwa, a me kona poe kanaka.
5Nhưng nếu các ngươi chẳng khứng nghe lời nầy, Đức Giê-hô-va phán, ta chỉ mình mà thề, nhà nầy sẽ thành ra hoang vu.
5Aka, ina aole oukou e hoolohe i keia mau olelo, ke hoohiki nei au ia'u iho, wahi a Iehova, e lilo no keia hale i neoneo.
6Đức Giê-hô-va phán về nhà vua Giu-đa như vầy: Ta coi ngươi cũng như Ga-la-át, cũng như chót núi Li-ban, nhưng ta chắc sẽ làm cho ngươi ra đồng vắng, ra các thành không người ở.
6No ka mea, penei ka olelo ana mai a Iehova i ko ka hale o ke alii o ka Iuda; O oe no o Gileada ia'u, o ke poo hoi o Lebanona. He oiaio, e hoolilo no wau ia oe i waonahele, i kulanakauhale noho ole ia.
7Ta sắm sẵn những kẻ tàn hại nghịch cùng ngươi, thảy đều cầm khí giới; chúng nó sẽ đốn những cây bách rất tốt của ngươi và quăng vào lửa.
7A na'u hoi e hoomakaukau i poe luku aku ia oe, o kela mea keia mea, me kona mea eha: a na lakou e kua ilalo i kou mau kedera maikai, a e kiola ia lakou iloko o ke ahi.
8Có nhiều dân tộc sẽ đi qua gần thành nầy, đều nói cùng bạn mình rằng: Cớ sao Đức Giê-hô-va đã đãi thành lớn nầy như vậy?
8A e nui loa auanei na lahuikanaka e hele ae a hala keia kulanakauhale, a e olelo kela mea keia mea o lakou i kona hoa, No keaha la i haua mai ai o Iehova ia mea i keia kulanakauhale nui?
9Sẽ có kẻ đáp rằng: Aáy là tại dân thành đó đã bỏ giao ước của Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, mà thờ lạy và hầu việc các thần khác.
9Alaila, e olelo no lakou, No ka mea, ua haalele lakou i ka berita o Iehova, ko lakou Akua, a ua hoomaua i na'kua e, a ua malama ia lakou.
10Chớ khóc người chết, chớ than thở về người. Thà hãy khóc kẻ đi ra, vì nó sẽ không trở về, chẳng còn lại thấy xứ mình sanh trưởng.
10Mai uwe oukou no ka mea i make, mai kanikau ia ia; e uwe nui i ka mea i hele aku; no ka mea, aole ia e hoi hou mai, aole e ike hou i kona aina hanau.
11Vì Đức Giê-hô-va phán như vầy về Sa-lum, con trai Giô-si-a, vua của Giu-đa, kế vị cha mình là Giô-si-a, và đã đi khỏi nơi nầy: Người sẽ chẳng trở về đó nữa;
11No ka mea, penei ka olelo ana mai a Iehova no Saluma, ke keiki a Iosia, ke alii o ka Iuda, ka mea i noho aupuni ma ka hakahaka o Iosia, o kona makua, ka mea i hele, mai keia wahi aku; aole ia e hoi hou ilaila:
12mà chết tại xứ đã bị đày đến, chẳng còn lại thấy đất nầy nữa.
12Aka, e make no oia ma kahi a lakou i lawepio ai ia ia, aole e ike hou mai i keia aina.
13Khốn thay cho kẻ xây nhà trái lẽ công bình, làm phòng bởi sự bất nghĩa; dùng kẻ lân cận mình làm việc vô lương, và chẳng trả tiền công;
13Auwe ka mea kukulu i kona hale me ka pono ole, a me kona mau keena maluna, me ka mea aole i maikai, ka mea hoohana wale i kona hoalauna, aole hoi i uku mai no kana hana ana;
14nói rằng: Ta sẽ xây tòa nhà rộng rãi, có những phòng khoảng khoát; xoi những cửa sổ, lợp trần bằng gỗ bách hương, và sơn son.
14Ka mea i olelo, E hana no wau i hale akea no'u me na keena nui maluna; a kalai hoi i mau puka makani nona; a ua kapiliia i ka laau kedera, a ua penaia i ka ulaula.
15Ngươi lấy gỗ bách hương ganh đua sự đẹp, há nhân đó được làm vua sao? Cha ngươi xưa đã ăn đã uống, làm ra sự công bình chánh trực, cho nên được thạnh vượng.
15E noho aupuni anei oe no kou hoopuni ana ia oe i ke kedera? Aole anei i ai, a inu kou makuakane, a hana i ka hooponopono, a me ka pololei, alaila, ua pomaikai oia?
16Người đã làm ra lẽ thẳng cho kẻ nghèo và thiếu thốn cho nên được phước. Đức Giê-hô-va phán: Như vậy há chẳng phải là biết ta sao?
16Nana no i hooponopono i ka hihia o ka poe hune, a me ka poe nele, alaila, pomaikai. Aole anei oia ka i ike mai ia'u, wahi a Iehova?
17Nhưng mắt và lòng ngươi chăm sự tham lam, đổ máu vô tội, và làm sự ức hiếp hung dữ.
17Aka, aohe mea ma kou mau maka, a ma kou naau, o kou makeewaiwai no, a me ka hookahe i ke koko hala ole, a me ka hookaumaha, a me ka lawe wale, e hana hoi.
18Vậy nên, về Giê-hô-gia-kim, con trai Giô-si-a, vua của Giu-đa, Đức Giê-hô-va phán như vầy: Người ta sẽ chẳng khóc người mà nói rằng: Oâi, anh em ta! Oâi, chị em ta! Cũng sẽ chẳng than tiếc mà rằng: Thương thay chúa! Thương thay vinh hiển chúa!
18Nolaila, penei ka olelo ana mai a Iehova no Iehoiakima, ke keiki a Iosia, ke alii o ka Iuda; Aole lakou e kumakena ia ia, me ka i iho, Auwe kuu kaikuaana! auwe kuu kaikuwahine! aole lakou e kumakena ia ia, me ka i iho, Auwe ka haku! auwe kona nani!
19Người sẽ bị chôn như chôn con lừa; sẽ bị kéo và quăng ra ngoài cửa thành Giê-ru-sa-lem.
19E kanuia no ia me ke kanu ana o ka hoki, i hukiia a kiolaia'ku mawaho aku o na pukapa o Ierusalema.
20Hãy lên Li-ban và kêu la, cất tiếng lên ở Ba-san; hãy kêu la từ chót núi A-ba-rim! vì hết thảy người yêu ngươi đều bị hủy diệt.
20E pii aku oe i Lebanona, a e kahea aku, e hookiekie hoi i kou leo ma Banana, a e kahea aku ma kela aoao; no ka mea, ua lukuia kou poe ipo a pau.
21Ta đã nói cùng ngươi đang thời ngươi thạnh vượng; nhưng ngươi nói rằng: Tôi chẳng khứng nghe. Từ khi ngươi còn trẻ, tánh nết ngươi đã dường ấy: đã chẳng vâng lời ta.
21I kou wa i pomaikai ai, olelo aku la no wau ia oe, aka, olelo mai oe, Aole au e hoolohe: oia hoi kou aoao, mai kou wa opiopio mai, no ka mea, aole oe i hoolohe i ko'u leo.
22Hết thảy những kẻ chăn dân của ngươi sẽ bị gió nuốt, và kẻ yêu ngươi sẽ đi làm phu tù. Bấy giờ ngươi chắc sẽ bị hổ mang nhuốc vì mọi tội ác mình.
22Na ka makani no e hoopau i kou mau kahu a pau; a e hele no kou poe ipo iloko o ke pio. Oiaio, i kela wa, e hilahila no oe, a e hoopalai no hoi, no kou hewa a pau.
23Ngươi là kẻ ở trên Li-ban và lót ổ trong chòm cây hương bách kia, khi ngươi gặp tai nạn, quặn thắt như đàn bà sanh đẻ, đáng thương xót biết bao!
23E ka mea noho ma Lebanona, ka mea hana i kou punana maloko o na laau kedera; pehea la oe e alohaia mai ai i ka wa e hiki mai ai kou eha, o ke kuakoko hoi, e like me ko ka wahine hanau keiki?
24Đức Giê-hô-va phán: Thật như ta hằng sống, dầu Giê-cô-nia, con trai Giê-hô-gia-kim, vua Giu-đa, là cái ấn trên tay hữu ta, ta cũng lột ngươi đi.
24Me au e ola nei, wahi a Iehova, ina o Konia, ke keiki a Iehoiakima, ke alii o ka Iuda, ina paha oia ka hoailona ma ko'u lima akau; e uhuki aku no au ia oe malaila mai.
25Ta sẽ phó ngươi trong tay những kẻ muốn đòi mạng ngươi, trong tay những kẻ mà ngươi sợ, tức trong tay Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, và trong tay người Canh-đê.
25A e haawi aku no au ia oe iloko o ka lima o ka poe e imi nei i kou ola, a iloko hoi o ka lima o ka poe nona ka maka au e makau nei, iloko o ka lima hoi o Nebukaneza, ke alii o Babulona, a iloko o ka lima o ko Kaledea.
26Ta sẽ đuổi ngươi cùng mẹ đã đẻ ra ngươi đến trong một xứ khác, không phải là xứ ngươi sanh ra, và ngươi sẽ chết tại đó.
26A e kipaku aku no wau ia oe, a me kou makuwahine nana oe i hanau, i ka aina e, i kahi o oukou i hanau ole ia'i; a malaila oukou e make ai.
27Còn như đất mà linh hồn chúng nó mong lộn lại, thì sẽ không được trở về.
27Aka, o ka aina a lakou e makemake ai e hoi mai; aole lakou e hoi mai ilaila.
28Vậy Giê-cô-nia nầy há phải cái bình khinh dể và bị bể sao? há phải cái bình không ai ưa thích sao? Làm sao nó và dòng dõi nó bị ném ra, bị quăng trong một xứ mình, chưa từng biết?
28O keia kanaka, o Konia, he kii anei oia i hoowahawahaia, a naha no hoi? He ipu anei i makemake ole ia? No ke aha lakou i kipakuia'ku ai, oia, a me kana hua, a ua hooleiia iloko o ka aina a lakou i ike ole ai?
29Hỡi đất, đất, đất! hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va.
29E ka honua, ka honua, ka honua, E hoolohe oe i ka olelo a Iehova:
30Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hãy ghi người nầy trong những kẻ không có con cái, trong những kẻ cả đời không thạnh vượng; vì con cháu nó sẽ không một người nào thạnh vượng, ngồi ngai Đa-vít và cai trị trong Giu-đa nữa!
30Ke olelo mai nei o Iehova penei, E palapala oe i keia kanaka, ua keiki ole, he kanaka pomaikai ole i kona mau la: no ka mea, aohe kanaka o kana hua e pomaikai ana, e noho ana ma ka nohoalii o Davida, a e noho aupuni hou ana ma ka Iuda.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.