Giê
Chapter 51
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Baibala Hemolele (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Đức Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta sẽ khiến gió hủy diệt dấy lên nghịch cùng Ba-by-lôn, nghịch cùng những người ở trong Líp-Ca-mai.
1KE i mai nei o Iehova, penei; Aia hoi, e hoala no wau i ka makani luku e ku e ia Babulona, E ku e hoi i ka poe e noho la iwaenakonu, Ka poe i ala ku e mai ia'u.
2Ta sẽ sai những người dân ngoại đến sàng sảy Ba-by-lôn, và làm tiêu hao đất nó; vì đến ngày khốn nạn, chúng nó sẽ đến trên Ba-by-lôn khắp tư bề.
2E hoouna aku au i na malihini i Babulona, A e hoopuehu lakou i kona, a e ninini aku i ko kona aina; No ka mea, e ku e no lakou ia ia a puni i ka la poino.
3Khá giương cung cự lại kẻ cầm cung, và cự lại kẻ mặc áo giáp đi xúng xính! Chớ chừa những lính chiến trai trẻ của Ba-by-lôn; hãy diệt trọn hết cả đạo binh nó.
3E lena ke kakaka o ka mea pana, E ku e i ka mea i hoolena i kona; E ku e i ka mea hookiekie maloko o kona paleumaumaunahi; Mai hookoe i kona poe kanaka opiopio, E luku loa aku i kona mau kaua a pau.
4Chúng nó sẽ bị giết, ngã xuống trong đất người Canh-đê, và bị đâm trong các đường phố nó.
4E hina no ka poe make ma ka aina o ko Kaledea, A e houia ma kona mau alanui.
5Y-sơ-ra-ên cùng Giu-đa chẳng bị lìa bỏ bởi Đức Chúa Trời mình, bởi Đức Giê-hô-va vạn quân; dầu đất chúng nó đầy tội lỗi nghịch cùng Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên.
5No ka mea, ua haalele ole ia ka Iseraela, A o ka Iuda hoi e kona Akua e Iehova o na kaua; Ua piha nae ko lakou aina i ka lawehala imua o ka Mea Hemolele o ka Iseraela.
6Hãy trốn khỏi giữa Ba-by-lôn, ai nấy khá thoát mạng mình; chớ vì tội nó mà bị chết mất. Vì ấy là kỳ trả thù của Đức Giê-hô-va, Ngài sẽ báo cho nó.
6E holo oukou mai waenakonu aku o Babulona, E hoopakele kela kanaka keia kanaka i kona ola iho: Mai noho oukou a lukuia iloko o kona hewa, No ka mea, o ka manawa keia o ko Iehova ukiuki; Nana no e hoouku aku ia ia
7Ba-by-lôn vốn là một cái chén vàng trong tay Đức Giê-hô-va, làm cho say cả đất; các nước đã uống rượu nó, vì đó mà trở nên điên cuồng.
7He wahi kiaha gula o Babulona ma ka lima o Iehova, O ka mea ia i ona'i ka honua a pau: Ua inu ko na aina i kona waina, Nolaila i pupule ai ko na aina.
8Ba-by-lôn thình lình bị đổ xuống và tan nát. Hãy vì nó than khóc! Hãy lấy nhũ hương chữa đau đớn nó, hoặc nó được chữa lành chăng?
8Ua haule hoohikilele o Babulona, a ua anaiia; E aoa nona, e kii hoi i wahi nini no kona eha, Ina paha e hoolaia oia.
9Chúng ta vẫn muốn chữa lành cho Ba-by-lôn, song nó không được chữa. Hãy lìa bỏ nó, ai nấy trở về xứ mình; vì sự phán xét nó thấu đến tận trời và lên tận vòng khung.
9Hoola aku no makou ia Babulona, aole ia i ola: E haalele ia ia, e hele hoi kela mea keia mea o kakou i kona aina iho; No ka mea, ua pa aku kona hoopaiia i ka lani, Ua hapaiia hoi, a i na aouli.
10Đức Giê-hô-va đã tỏ ra sự công bình chúng ta. Hãy đến, rao ra trong Si-ôn công việc của Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta.
10Ua hoopuka mai o Iehova i ko kakou pono; E hele mai hoi, e hai aku kakou ma Ziona i ka hana a Iehova ko kakou Akua.
11Hãy chuốc tên, cầm thuẫn cho chắc! Đức Giê-hô-va đã giục lòng các vua ở Mê-đi, vì Ngài đã định ý hủy diệt Ba-by-lôn. Vì đây là sự báo thù của Đức Giê-hô-va, Ngài trả thù về đền thờ của Ngài.
11E anai i na pua, e lalau i na palekaua; Ua hooikaika o Iehova i ka manao o na'lii o Media: No ka mea, he manao ku e kona ia Babulona e luku ia wahi; No ka mea, o ka hoopai ana ia o Iehova, O kana hoopai ana hoi, no kona luakini.
12Hãy dựng cờ xí đánh các tường thành Ba-by-lôn! Khá thêm lính giữ, đặt vọng canh, sắp quân phục! Vì Đức Giê-hô-va đã định ý và đã làm ra sự Ngài đã phán về dân cư Ba-by-lôn.
12E kau i ka hae ma na pa o Babulona, E hoomahuahua i ka poe kaua, E hoonohonoho i na kiai, E hoomakaukau i ka poe hoohalua; No ka mea, ua noonoo o Iehova, a ua hana hoi i na mea ana i olelo ku e ai i ka poe e noho la ma Babulona.
13Hỡi thành giàu có của báu, ở trên nhiều dòng nước kia, sự cuối cùng ngươi đã đến, cái lượng sự tham lam ngươi đã đầy!
13E ka mea e noho la ma na wai nui, Ka mea waiwai nui hoi, Ua hiki mai kou hope, a me ke ana o kou hao ana.
14Đức Giê-hô-va vạn quân đã chỉ mình mà thề rằng: Ta chắc sẽ làm cho ngươi đầy người ta, đông như cào cào; chúng nó sẽ trổi tiếng kêu la nghịch cùng ngươi.
14Ua hoohiki o Iehova o na kaua ia ia iho, Oiaio, e hoopiha no wau ia oe i na kanaka e like me na enuhe, A e hookiekie lakou i ka hooho ku e ia oe.
15Chính Ngài là Đấng đã lấy quyền năng mình dựng nên đất, lấy sự khôn ngoan mình lập thành thế gian, lấy sự sáng suốt mình giương các từng trời ra.
15Ua hana oia i ka honua i kona mana, Ua hookumu oia i ke ao nei i kona akamai, A ua uhola'i i na lani i kona ike.
16Nghe tiếng Ngài, những nước trong các từng trời om sòm. Ngài khiến hơi nước lên từ các đầu cùng đất, khiến chớp theo mưa, từ trong kho tàng mình phát ra gió.
16I ka poha ana o kona leo, Nui na wai ma na lani; Oia ka mea e pii aku ai ka ohu, mai na kihi ae o ka honua: Nana no i hana ka uwila, me ka ua, A hoopuka mai la oia i ka makaui, Mailoko mai o kona waihona waiwai.
17Vậy nên phàm người đều mê muội, lảng trí; thợ vàng đều xấu hổ về tượng đúc của mình; vì tượng đúc nó chỉ là giả dối, chẳng có hơi thở ở trong.
17Me he holoholona la na kanaka a pau ma ka ike, Ua hoohilahilaia na mea hoohehee kala a pau, ma na kii i hooheheeia; No ka mea, he wahahee kona kii hooheheeia, Aohe hanu iloko o lakou.
18Những thần tượng chỉ là hư không, là việc phỉnh dối; đến ngày thăm phạt sẽ diệt mất cả.
18He lapuwale lakou, he hana na ka wahahee; I ko lakou wa e hoopaiia mai ai, e make no lakou.
19Nhưng cơ nghiệp của Gia-cốp thì chẳng giống như chúng nó, vì chính Ngài là Đấng đã tạo nên mọi vật, còn Y-sơ-ra-ên là chi phái của cơ nghiệp Ngài. Danh Ngài là Đức Giê-hô-va vạn quân.
19Aole i like ka Puu o Iakoba me lakou, No ka mea, nana no i hana na mea a pau; O ka Iseraela ke kookoo o kona hooilina; O Iehova o na kaua kona inoa.
20Ngươi làm búa và khí giới đánh giặc cho ta; ta sẽ dùng ngươi phá tan các dân và diệt các nước.
20He hamare no oe no'u, A me ko'u mau mea kaua e kaua'i: No ka mea, ia oe no wau e wawahi ai i na aina, A ia oe no hoi e luku aku ai au i na aupuni;
21Ta sẽ dùng ngươi phá tan ngựa và người cưỡi ngựa, phá tan xe và kẻ cỡi xe.
21Ia oe no wau e uhai i ka lio, A me kona mea nana e holo; Ia oe no wau e uhai ai i ke kaakaua, A me kona mea nana e holo;
22Ta sẽ dùng ngươi phá tan đàn ông, đàn bà, già và trẻ; ta sẽ dùng ngươi phá tan trai trẻ và gái đồng trinh.
22Ia oe no wau e uhai ai i ke kane a me ka wahine; Ia oe no hoi au e uhai ai i ka elemakule a me ka mea opiopio; A ia oe no e uhai ai au i ke kanaka opiopio, a me ke kaikamahine:
23Ta sẽ dùng ngươi phá tan kẻ chăn và bầy nó, kẻ cày ruộng và đôi bò nó. Ta sẽ dùng ngươi phá tan các quan cai trị và các quan đề hình.
23Ia oe no e uhai aku ai au i ke kahuhipa, a me kona ohana; Ia oe no wau e uhai aku ai i ke kauaka mahiai, A me kona mau bipi kauo; A ia oe no wau e uhai aku ai i na kiaaina, A me ko lakou poe alii.
24Nhưng trước mắt các ngươi, ta sẽ báo cho Ba-by-lôn và mọi dân cư Canh-đê phàm điều ác chi mà chúng nó đã làm tại Si-ôn, Đức Giê-hô-va phán vậy.
24A maluna o Babulona, a maluna o ka poe e noho la ma Kaledea, E hoihoi no wau i ka hewa a pau a lakou i hana'i, Ma Ziona, imua o kou mau maka, wahi a Iehova.
25Đức Giê-hô-va phán: Hỡi núi hay hủy diệt, nầy, ta nghịch cùng ngươi, là kẻ đã phá tan cả thế gian! Ta sẽ giá tay trên ngươi, sẽ xô ngươi lăn xuống từ trên các vầng đá, làm cho ngươi thành ra núi bị cháy.
25Aia hoi, owau ka i ku e ia oe, e ka mauna hoomake, Wahi a Iehova; Ka mea i anai i ka honua a pau: A e kakauha aku au i ko'u lima maluna ou, A e olokaa aku au ia oe ilalo, mai na pohaku aku, A e hoolilo au ia oe i mauna a.
26Người ta sẽ chẳng từ nơi ngươi lấy đá làm góc cùng đá làm nền nữa, nhưng ngươi sẽ là hoang vu đời đời, Đức Giê-hô-va phán vậy.
26Aole hoi lakou e lawe i kekahi pohaku ou i pohaku kihi, Aole hoi i pohaku hookumu: Aka, e neoneo mau loa aku no oe, wahi a Iehova.
27Hãy dựng cờ xí trong đất; thổi kèn trong các nước; sửa soạn các dân đánh nó! Hãy gọi những nước A-ra-rát, Min-ni, Aùch-kê-na, đến đánh nó! Hãy lập một quan tướng đạo binh! Hãy khiến những ngựa lên như cào cào!
27E kau oukou i ka hae ma ka aina, E puhi i ka pu iwaena o ko na aina, E hoomakaukau i ko na aina, e ku e ia ia; E kena i na aupuni o Arerata e ku e ia ia, Ia Mini, a me Asekenaza; E hoonoho i alihi kaua e ku e ia ia; E hoouna i na lio e like me na enuhe huluhulu.
28Hãy sửa soạn các nước đánh nó, tức các vua Mê-đi, các quan cai trị nó, các quan đề hình nó, và cả đất mà những người ấy cai quản!
28E hoomakaukau ku e ia ia i ko na aina a me ua'lii o ko Media, I kona poe kiaaina hoi a me kona mau luna, A me ka aina a pau o kona aupuni.
29Đất rúng động và sầu thảm, vì ý chỉ của Đức Giê-hô-va nghịch cùng Ba-by-lôn đã đứng vững, để làm cho Ba-by-lôn thành ra hoang vu không có dân ở.
29E haalulu no ka aina, a e mihi hoi; No ka mea, e hanaia maluna o Babulona na manao a pau o Iehova, E hoolilo i ka aina o Babulona i wahi neoneo, Me ka mea ole nana e noho.
30Những lính chiến của Ba-by-lôn thôi đánh, cứ ở trong các đồn lũy; sức chúng nó đã kiệt, trở nên giống như đàn bà. Nhà của nó bị đốt, then gài cửa nó bị bẻ.
30Ua haalele na kanaka ikaika o Babulona i ke kaua, Ua noho lakou ma na puu kaua; Ua pio hoi ko lakou ikaika, Ua like no hoi lakou me na wahine; Ua hoopau lakou i ko lakou wahi noho i ke ahi, Ua uhaiia kona mau kikaola.
31Lính trạm gặp nhau, sứ giả đụng đầu đặng báo tin cho vua Ba-by-lôn rằng thành vua ấy bị đánh lấy khắp tư bề,
31E holo auanei kekahi luna e halawai me ka kekahi luna, A me kekahi elele e halawai me kekahi elele, E hai aku i ke alii i ke pio ana o ke kulanakauhale ma kekahi pea:
32đò giang bị chiếm giữ, đồng lầy bị đốt cháy bằng lửa, và những lính chiến đã hoảng hồn.
32I ka lilo ana o na alanui kiaiia, A ua hoopau no lakou i na ohe i ke ahi, Ua auhee hoi na kanaka kaua.
33Vì Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Con gái Ba-by-lôn giống như sân đạp lúa đến kỳ đạp lúa; còn ít lâu nữa, kỳ mùa gặt sẽ đến cho nó.
33No ka mea, ke olelo mai nei o Iehova o na kaua, ke Akua o ka Iseraela penei; Ua like ke kaikamahine o Babulona me kahi hahi palaoa, Ua hiki mai ka manawa e hahi ai ia ia; He manawa iki e koe, a hiki mai kona hoiliili ai ana.
34Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đã nuốt ta, nghiền ta; bỏ ta như bình trống không; nuốt ta như con vật lớn; lấy của ngon ta làm no bụng người; đuổi ta ra khỏi.
34Ua ai mai o Nebukaneza ke alii o Babulona ia'u, A ua hooki loa mai ia'u, Ua hoolilo mai oia ia'u i ipu mea ole iloko, Ua moni mai oia ia'u, e like me ka moonui, Ua hoopiha oia i kona opu i ka'u mea maikai, Ua kipaku mai oia ia'u.
35Dân cư Si-ôn sẽ nói rằng: Nguyền sự bạo ngược đã làm cho ta, và xác thịt ta xuống trên Ba-by-lôn! Giê-ru-sa-lem sẽ nói rằng: Nguyền cho huyết ta đổ trên dân cư Canh-đê!
35Maluna hoi o Babulona, ka hookaumahaia o'u a me ko'u kino, Wahi a ka mea e noho la ma Ziona; A o ko'u koko hoi maluna o ka poe e noho la ma Kaledea, Wahi a Ierusalema.
36Vậy nên, Đức Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta sẽ đối nại việc ngươi, trả thù cho ngươi; ta sẽ làm khô biển nó và làm cạn tắt nguồn nó.
36Nolaila, ke olelo mai nei o Iehova penei; Aia hoi, na'u no e hooponopono i kou hoopiiia, Na'u hoi e hoopai aku nou; A e hoomaloo no wau i kona moana, A e hoopio no hoi au i kona waipuna.
37Ba-by-lôn sẽ trở nên đống hư nát, hang chó rừng, trò gở lạ và xỉ báng, không có dân ở nữa.
37A e lilo o Babulona i mau puu, He wahi noho no na iliohihiu, He mea e kahaha ai, a e hoowahawaha ai hoi, Me ka mea ole nana e noho.
38Chúng nó sẽ cùng nhau gầm thét như sư tử tơ, rống như sư tử con.
38E uwo pu no lakou e like me na liona, A e hoonui hoi i ko lakou leo e like me na keiki liona.
39Khi chúng nó càng nóng nảy lắm, ta sẽ dọn tiệc cho, và làm cho say, hầu cho chúng nó được vui mừng, và ngủ một giấc đời đời, không thức dậy nữa; Đức Giê-hô-va phán vậy.
39Ia lakou e wela'i, e hana no wau i ko lakou ahainu, A e hooona aku wau ia lakou, i mea e lealea ai lakou, A e moe no lakou i ka hiamoe mau loa, Aole lakou e ala hou, wahi a Iehova.
40Ta sẽ làm cho chúng nó xuống hàng thịt như chiên con, chiên đực, và dê đực vậy.
40E hooiho aku au ia lakou e like me na keikihipa i ka make, E like hoi me na hipa kane, a me na kaokane.
41Sê-sác đã bị chiếm lấy, và thành mà cả thiên hạ đều ngợi khen đã bị bắt là thể nào! Ba-by-lôn đã trở nên sự hoang vu giữa các nước là thể nào!
41Nani ka hopuia o Sesaka! A ua hoopioia hoi ka mea nani o ka honua a pau! Nani ka lilo ana o Babulona i mea kupaianaha iwaena o na aina!
42Biển lên ngập Ba-by-lôn, nó bị muôn vàn luồng sóng bao bọc lấy.
42Ua pii mai ke kai maluna o Babulona; Ua uhiia oia i ka nui o kona mau ale.
43Các thành nó đã trở nên hoang vu, đất khô, nơi sa mạc, đất không dân ở, không con người nào đi qua.
43Ua lilo kona mau kulanakauhale i wahi neoneo, He aina maloo hoi, a he waonahele, He aina noho ole ia e kekahi kanaka, Aole hoi e hele ae ke keiki a ke kanaka ilaila.
44Ta sẽ đoán phạt Bên trong Ba-by-lôn, sẽ móc vật nó đã nuốt ra khỏi miệng nó; các nước sẽ chẳng đổ về nó nữa. Tường thành Ba-by-lôn cũng sẽ xiêu đổ!
44Na'u no e hoopai aku ia Bela ma Babulona, A e hoopuka aku no hoi au iwaho o kona waha, I ka mea ana i moni ai; Aole e akoakoa hou mai na lahuikanaka io na la; Oia, e hiolo ana ka pa o Babulona.
45Hỡi dân ta, hãy ra khỏi giữa nó, ai nấy khá cứu mình khỏi cơn giận phừng phừng của Đức Giê-hô-va!
45E ko'u poe kanaka, e hele oukou maiwaena aku ona, A e hoopakele kela kanaka keia kanaka i kona ola iho, Mai ka ukiuki nui o Iehova;
46Lòng các ngươi chớ nhút nhát, chớ sợ hãi vì những tin đồn ra trong đất nầy. Vì năm nay một tin đồn đến, rồi sau năm khác cũng có tin đồn; có sự bạo ngược trong đất, kẻ cai trị nghịch cùng kẻ cai trị.
46O maule auanei ko oukou naau, a makau hoi oukou, no ka lono e loheia ana ma ia aina; E hiki mai no ka lono i kekahi makahiki, A he lono hou i kekahi makahiki, He haunaele ma ka aina, O kekahi alii e ku e ana i kekahi alii.
47Vậy nên, nầy, những ngày đến, ta sẽ đoán phạt các tượng chạm của Ba-by-lôn; cả đất nó sẽ bị xấu hổ; những người bị giết sẽ ngã xuống giữa nó.
47Nolaila, aia hoi, e hiki mai ana na la, E hoopai aku ai au i na kii kalaiia o Babulona; A e hoohilahilaia kona aina a pau, A e haule hoi iwaenakonu ona, kona poe a pau i houia.
48Lúc đó, các từng trời, đất, và mọi vật trên đất đều cất tiếng reo vui vì Ba-by-lôn; vì những kẻ hủy hại từ các miền phương bắc ào đến trên nó, Đức Giê-hô-va phán vậy.
48Alaila e hookani olioli ai ka lani, a me ka honua, a me na mea a pau oloko, no Babulona; No ka mea, mai ke kukulu akau mai e hele mai ai io na la ka poe hao wale, wahi a Iehova.
49Như Ba-by-lôn đã làm cho kẻ bị giết của Y-sơ-ra-ên ngã xuống, cũng vậy, kẻ bị giết của Ba-by-lôn cũng sẽ ngã xuống trong cả đất mình.
49Me Babulona i hoohina'i i ka poe i houia o ka Iseraela, Pela no ma Babulona e hina'i ka poe i houia o ka honua a pau.
50Các ngươi là kẻ đã tránh khỏi gươm, hãy đi, đừng đứng lại! Từ phương xa hãy nhớ đến Đức Giê-hô-va, và tưởng tới Giê-ru-sa-lem!
50E hele oukou, e ka poe i pakele i ka pahikaua, Mai ku malie; e hoomanao ia Iehova ma kahi loihi aku, E hoomanao hoi ia Ierusalema iloko o ko oukou naau.
51Chúng ta hổ ngươi vì sự sỉ nhục mà mình đã nghe; sự hổ thẹn đầy mặt chúng ta; vì kẻ ngoại đã xâm vào nơi thánh của nhà Đức Giê-hô-va.
51Ua hoohilahilaia makou, no ka mea, ua lohe makou i ka hoowahawaha: Ua uhiia ko makou maka i ka hilahila; No ka mea, ua hiki mai na malihini iloko o na keenakapu o ka hale o Iehova.
52Vậy nên, Đức Giê-hô-va phán: Nầy, những ngày đến, ta sẽ đoán phạt các tượng chạm của Ba-by-lôn; cả trong đất nó, những người bị thương sẽ rên siếc.
52No ia mea, aia hoi, e hiki mai auanei na la, wahi a Iehova, E hoopai aku ai au i kona mau kii kalaiia; A ma kona aina a puni e kaniuhu ai no ka poe i oia.
53Dầu Ba-by-lôn dấy lên tận trời, dầu nó làm thành rất cao cho kiên cố, ta cũng sẽ sai những kẻ hủy hại đến nghịch cùng nó. Đức Giê-hô-va phán vậy.
53Ina paha i pii aku o Babulona a i ka lani, A ina i hoopaa loa oia i na puu kaua o kona ikaika, E hele aku nae ka poe hao wale, mai o'u aku nei a io na la, wahi a Iehova.
54Từ Ba-by-lôn dấy lên tiếng khóc than, và tiếng hủy hoại lớn vang ra từ đất người Canh-đê!
54Mai Babulona mai, kui mai ka lono no ka uwe ana, A me ka luku nui ia, mai ka aina o ko Kaledea mai.
55Vì Đức Giê-hô-va làm cho Ba-by-lôn ra hoang vu, dứt tiếng ồn ào trong ấy. Sóng chúng nó gầm thét như nhiều nước; tiếng chúng nó vang ra.
55No ka mea, ua hao wale o Iehova ia Babulona, A ua hooki hoi i ka walaau nui mai ona aku; A halulu kona mau ale e like me na wai nui, Kani no ka leo o kona walaau.
56Thật, kẻ tàn hại đã áo đến trên Ba-by-lôn. Những kẻ mạnh mẽ của nó bị bắt, cung chúng nó bị gãy; vì Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời hay báo trả, Ngài chắc sẽ báo trả cho.
56No ka mea, ua hele mai ka mea hao wale maluna ona, Maluna hoi o Babulona; Ua lawepioia kona poe kanaka ikaika, Ua hai hoi na kakaka a pau o lakou; No ka mea, o Iehova ke Akua hoopai, Oiaio no, e hoopai oia.
57Đức Vua, danh Ngài là Đức Giê-hô-va vạn quân, phán: Ta sẽ làm cho say các quan trưởng, các kẻ khôn ngoan, các quan cai trị, các quan đề hình, cùng những lính chiến của nó; chúng nó sẽ ngủ một giấc đời đời và không tỉnh thức nữa.
57A e hooona aku au i kona poe alii, a me kona poe akamai, I kona poe kiaaina, a me kona mau luna, a me kona poe kanaka ikaika: A e moe no lakou i ka hiamoe mau loa, Aole lakou e ala hou, wahi a ke alii, Nona ka inoa, o Iehova o na kaua.
58Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Tường thành Ba-by-lôn dầu rộng lắm, sẽ bị đổ xuống hết, cửa nó dầu cao lắm, sẽ bị lửa đốt cháy. Aáy vậy, các dân khó nhọc mà chẳng được gì, các nước làm việc cho lửa, và đều mệt mỏi.
58Ke olelo mai nei o Iehova o na kaua; E oiaio no e hoohiolo loa ia na pa nui o Babulona, A e puhiia i ke ahi kona mau pukapa kiekie; E hooikaika na kanaka a make hewa ka luhi, A o na lahuikanaka hoi, no ke ahi, A e maloeloe lakou.
59Nầy là lời của tiên tri Giê-rê-mi dặn Sê-ra-gia, con trai Nê-ri-gia, cháu Na-ha-sê-gia, khi người đi với Sê-đê-kia vua Giu-đa qua nước Ba-by-lôn trong năm thứ tư đời vua ấy. Bấy giờ Sê-ra-gia làm quan nội đại thần.
59O ka olelo a Ieremia a ke kaula i kauoha'i ia Seraia, i keiki a Neria, i ke keiki a Maaseia, i ka manawa ana i hele pu aku ai i Babulona me Zedekia, ke alii o ka Iuda, i ka makahiki aha o kona noho alii ana. He luna noho malie o ua Seraia nei.
60Giê-rê-mi chép vào sách hết thảy các tai nạn phải đến cho Ba-by-lôn, tức mọi lời đã được chép về Ba-by-lôn.
60A kakau no Ieremia iloko o ka buke i ka hewa a pau e hiki mai ana maluna o Babulona, i keia mau olelo a pau hoi i palapalaia no Babulona.
61Giê-rê-mi nói với Sê-ra-gia rằng: Khi ngươi đã đến Ba-by-lôn, khá lo đọc hết những lời nầy.
61Olelo mai la o Ieremia ia Seraia, A hiki aku oe i Babulona, a ike, a heluhelu hoi i keia mau olelo a pau;
62Rồi ngươi khá nói: Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài đã phán rằng sẽ hủy diệt thành nầy, và nơi nầy sẽ không ai ở nữa, từ loài người cho chí loài vật cũng không, song sẽ nên một nơi hoang vu đời đời.
62Alaila, e i aku oe, E Iehova, ua olelo ku e mai oe i keia wahi, e hooki iho, i mea e koe ole ai kekahi mea iloko ona, aohe kanaka, aohe holoholona, aka, e neoneo mau loa aku no.
63Khi ngươi đã đọc sách nầy xong, thì khá cột vào sách một cục đá, mà ném xuống giữa sông Ơ-phơ-rát,
63A hiki i ka manawa e hoopau ai oe i ka heluhelu ana i keia buke, alaila e nakinaki i ka pohaku me ka buke, a e hoolei aku iwaenakonu o Euperate.
64và khá nói rằng: Ba-by-lôn sẽ chìm xuống như vậy! Nó sẽ chẳng còn chổi dậy nữa vì tai nạn mà ta sẽ giáng trên nó, chúng nó sẽ mỏi mệt. Lời của Giê-rê-mi đến đây.
64A e i aku oe, Pela e poho ai o Babulona, aole o ala hou, mai ka hewa a'u e lawe ai maluna ona. A e maloeloe lakou. A ia nei na olelo a Ieremia.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.