Giê 21
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Có lời từ nơi Đức Giê-hô-va phán cho Giê-rê-mi, khi vua Sê-đê-kia sai Pha-su-rơ, con trai Manh-ki-gia, và Sô-phô-ni, con trai thầy tế lễ Ma-a-sê-gia, đến cùng người mà rằng:
1KA olelo i hiki mai io Ieremia la, mai o Iehova mai i ka wa i hoouna aku ai o Zedekia, ke alii, io na la, ia Pasehura, ke keiki a Malekia, a me Zepania, ke keiki a Maaseia, ke kahuna, i aku la,
2Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đến đánh chúng ta, nên hãy vì chúng ta cầu hỏi Đức Giê-hô-va; có lẽ Đức Giê-hô-va sẽ vì chúng ta làm y theo mọi việc lạ lùng của Ngài, cho người lìa khỏi chúng ta.
2Ke noi aku nei au ia oe, e noi aku ia Iehova no kakou; no ka mea, ke kaua mai nei o Nebukaneza, ke alii o Babulona ia kakou; ina paha e hana mai o Iehova ia kakou, e like me kana hana kupanaha a pau, i pii aku ke alii o Babulona, mai o kakou aku.
3Giê-rê-mi đáp rằng: Các ông hãy tâu lại cùng Sê-đê-kia như vầy:
3Alaila, olelo mai la o Ieremia ia lakou, Penei oukou e olelo aku ai ia Zedekia;
4Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Nầy, những binh khí trong tay các ngươi đang cầm để đánh đuổi vua Ba-by-lôn và người Canh-đê hiện vây các ngươi ở ngoài tường thành, thì ta sẽ khiến lui về, và thâu lại vào giữa thành nầy.
4Ke olelo mai nei o Iehova, ke Akua o ka Iseraela peneia, Aia hoi, e hoihoi hope aku no au i na mea kaua, na mea maloko o ko oukou lima, na mea a oukou i kaua ai i ke alii o Babulona, a i ko Kaledea, ka poe hoopilikia mai ia oukou mawaho o na pa, a e hoiliili au ia mau mea maloko o keia kulanakauhale.
5Chính ta sẽ chiến đấu nghịch cùng các ngươi, dùng tay giang ra, cánh tay mạnh sức, nổi nóng, phát giận và sự thạnh nộ lớn.
5A owau no kekahi e kaua aku ia oe, me ka lima kakauha, a me ka lima ikaika, me ka huhu no, a me ka inaina, a me ka ukiuki loa.
6Ta sẽ đánh dân cư thành nầy cả người và vật: chúng nó sẽ chết dịch rất lớn.
6A e hahau no wau i ka poe noho ma keia kulauakauhale, i kanaka, a me na holoholona; a e make no lakou i ka mai ahulau nui.
7Đức Giê-hô-va phán: Sau đó, ta sẽ phó Sê-đê-kia, vua Giu-đa, tôi tớ và dân nó, tức những kẻ còn lại trong thành, đã tránh khỏi dịch lệ, gươm dao, đói kém, ta sẽ phó chúng nó vào tay Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, vào tay những kẻ cừu thù và những kẻ đòi mạng chúng nó. Nê-bu-cát-nết-sa sẽ đánh chúng nó bằng lưỡi gươm, không dè tiếc, không áy náy, không thương xót.
7A mahope iho, wahi a Iehova, e haawi no wau ia Zedekia, i ke alii o ka Iuda, a me kana poe kauwa, a me kona poe kanaka, na mea o keia kulanakauhale i koe i ke ahulau, a me ka pahikaua, a me ka wi, a iloko o ka lima o Nebukaneza, o ke alii o Babulona, a iloko o ka lima o ko lakou poe enemi, a iloko o ka lima o ka poe imi i ko lakou ola; a e hahau mai no oia ia lakou i ka maka o ka pahikaua. Aole ia e hookoe ia lakou, aole e aloha mai, aole hoi e lokomaikai mai.
8Ngươi khá nói cùng dân nầy rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta đặt trước mặt các ngươi con đường sống và con đường chết.
8Ae olelo aku oe i keia poe kanaka, Ke olelo mai nei o Iehova penei, Aia hoi, ke kau nei au imua o oukou i ka aoao o ke ola, a me ka aoao o ka make.
9Kẻ nào cứ ở lại trong thành nầy sẽ chết bởi gươm dao, đói kém, và ôn dịch; nhưng kẻ nào ra khỏi, đi sang cùng người Canh-đê, tức người đang vây mình, thì sẽ sống, và sự sống mình sẽ làm của cướp cho mình.
9O ka mea e noho ma keia kulanakauhale, e make no ia i ka pahikaua, a me ka wi, a me ka mai ahulau; aka, o ka mea puka aku iwaho, a haule aku i ko Kaledea, ka poe e hoopilikia ana ia oukou, e ola no ia, a e koe no kona ola i waiwaipio nona iho.
10Đức Giê-hô-va phán: Vì ta để mặt ta trên thành nầy mà xuống họa cho, chớ không phải xuống phước; thành ấy sẽ bị phó vào tay vua Ba-by-lôn, người sẽ lấy lửa đốt đi.
10No ka mea, ua hooku e au i ko'u maka i keia kulanakauhale, ma ka hewa, aole ma ka maikai, wahi a Iehova; a e haawiia ia iloko o ka lima o ke alii o Babulona, a e puhi oia i keia wahi i ke ahi.
11Luận về nhà vua Giu-đa, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va:
11E hoolohe oukou i ka olelo a Iehova, no ka hale o ke alii o ka Iuda.
12Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hỡi nhà Đa-vít, vừa lúc ban mai hãy làm sự công bình, hãy cứu kẻ bị cướp ra khỏi tay người ức hiếp, e rằng vì các ngươi làm điều ác, mà ta phát giận ra như lửa, cháy không ai tắt được chăng.
12E ko ka hale o Davida, ke i mai nei o Iehova peneia, E hana oukou i ka hooponopono i kakahiaka, a e hoopakele i ka mea i haoia, mai ka lima aku o ka mea hookaumaha, o puka aku ko'u ukiuki, e like me ke ahi, a e a hoi, aole mea e hiki ia ia ke kinai, no ka hewa o ka oukou hana ana.
13Đức Giê-hô-va phán: Nầy, hỡi kẻ ở trong nơi trũng, trên vầng đá nơi đồng bằng kia, ta nghịch cùng các ngươi, là những người nói rằng: Ai sẽ xuống nghịch cùng chúng ta? ai sẽ sấn vào nơi chúng ta ở?
13Aia hoi, ua ku e no wau ia oe, e ka mea noho ma ke awawa, a ma ka pohaku o ka papu hoi, wahi a Iehova, ka poe olelo, Owai la ka mea iho ilalo e ku e ia makou? Owai la ka mea e komo iloko o ko makou wahi noho ai?
14Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ phạt các ngươi theo quả của việc làm các ngươi; ta sẽ đốt lửa trong rừng nó, lửa sẽ nuốt hết mọi vật ở chung quanh nó.
14Aka, e hoopai aku au ia oukou, e like me ka hua o ka oukou hana ana, wahi a Iehova; a e puhi no wau i ke ahi iloko o kolaila ululaau, a e hoopau no ia i na mea a pau, a puni ia wahi.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.