Giê 13
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Đức Giê-hô-va phán cùng tôi như vầy: Hãy đi, mua cho ngươi một cái đai gai, thắt vào lưng ngươi; nhưng chớ dầm trong nước.
1KE olelo mai nei o Iehova ia'u penei, O hele, a e lawe nou i kaei olona, a e hume ma kou puhaka, a mai waiho hoi ia iloko o ka wai.
2Vậy tôi theo lịnh Đức Giê-hô-va, mua đai, thắt vào lưng tôi.
2A lawe iho la au i ke kaei, e like me ka olelo a Iehova, a hume iho la au ma kuu puhaka.
3Lời của Đức Giê-hô-va truyền cho tôi lần thứ hai như vầy:
3Hiki hou mai ka olelo a Iehova ia'u, o ka lua ia, i mai la,
4Hãy lấy cái đai ngươi đã mua đang thắt trên lưng ngươi; chờ dậy, đi đến bờ sông Ơ-phơ-rát, và giấu nó trong kẽ vầng đá tại đó.
4E lawe oe i ke kaei i loaa ia oe, ka mea ma kou puhaka, a e ku iluna, a e hele i Euperate, a e huna ia mea malaila, ma ke ana o ka pohaku.
5Tôi bèn đi giấu nó nơi bờ sông Ơ-phơ-rát, như Đức Giê-hô-va đã phán dặn.
5A hele aku la au, a huna iho la ia, ma Euperate, e like me ka Iehova i kauoha mai ai ia'u.
6Sau đó nhiều ngày, Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: Hãy chờ dậy, đi đến bờ sông Ơ-phơ-rát, lấy cái đai ta đã khiến ngươi giấu tại đó.
6A hala na la he nui, alaila, olelo mai la o Iehova ia'u, E ku iluna, a e hele i Euperate, a e lawe mai i ke kaei a'u i kauoha aku ai ia oe e huna malaila.
7Tôi đi đến sông Ơ-phơ-rát; đào và rứt cái đai ra từ chỗ tôi đã giấu trước kia. Nhưng cái đai hư hết, không dùng chi được nữa.
7Alaila, hele aku la au i Euperate, a kohi iho la, a lawe ae la i ke kaei, mai kahi aku a'u i huna ai la mea; a aia hoi, ua ino ke kaei, he mea waiwai ole loa hoi.
8Đoạn, lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng:
8Alaila, hiki mai la ka olelo a Iehova ia'u, i mai la,
9Đức Giê-hô-va phán như vầy: Ta sẽ làm hư sự kiêu ngạo của Giu-đa, và sự kiêu ngạo lớn của Giê-ru-sa-lem đồng một thể nầy.
9Ke olelo mai nei o Iehova penei, E like me keia e hoino aku ai au i ka manao kiekie o ka Iuda, a me ka manao kiekie loa o ko Ierusalema.
10Dân ác nầy chẳng khứng nghe lời ta, bước theo sự cứng cỏi của lòng mình, theo các thần khác mà hầu việc và thờ lạy, thì sẽ trở nên như cái đai nầy không còn dùng được việc gì.
10O keia poe kanaka hewa, ka poe manao ole e hoolohe i ka'u mau olelo, ka poe i hele ma ka paakiki o ko lakou naau, a hahai hoi mamuli e na akua e, e malama ia lakou, a e hoomana ia lakou, e like auanei lakou me keia kaei, ka mea waiwai ole loa.
11Đức Giê-hô-va phán: Như cái đai dính vào lưng người, thì ta khiến cả nhà Y-sơ-ra-ên và cả nhà Giu-đa dính vào ta cũng vậy, đặng chúng nó làm dân ta, làm danh vọng, ca tụng, vinh quang ta; nhưng chúng nó chẳng khứng nghe.
11No ka mea, e like me ke kaei i pili i ka puhaka o ke kanaka, pela i hoopili mai ai au i ko ka hale a pau o ka Iseraela, a me ko ka hale a pau o ka Iuda ia'u, wahi o Iehova; i lilo mai lakou i poe kanaka no'u, a i inoa hoi, a i mea e hoomaikaiia'i, a i nani hoi; aka, aole lakou i hoolohe.
12Ngươi khá bảo chúng nó lời nầy: Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên có phán rằng: Hễ là bình thì sẽ được đầy rượu. Chúng sẽ nói cùng ngươi rằng: Chúng tôi há chẳng biết các bình đều sẽ đầy rượu sao?
12Nolaila oe e olelo ai ia lakou i keia olelo; Ke i mai nei o Iehova, ke Akua o ka Iseraela peneia, E hoopihaia no na hue a pau i ka waina, a e olelo mai no lakou ia oe, Aole anei kakou e ike maopopo, e hoopihaia na hue a pau no i ka waiua?
13Ngươi khá lại bảo rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta sẽ khiến hết thảy dân cư đất nầy, các vua ngồi trên ngai Đa-vít, các thầy tế lễ, các kẻ tiên tri, và hết thảy dân cư Giê-ru-sa-lem đều say sưa.
13A e olelo aku no oe ia lakou, Ke i mai nei o Iehova penei, Aia hoi, o ka poe a pau e noho la ma keia aina, o na'lii e noho ana ma ka noho alii o Davida, o na kahuna, a me na kaula, a me ka poe a pau e noho la ma Ierusalema, e hoopiha no wau ia lakou i ka ona.
14Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ làm cho người nầy với kẻ khác, cha với con, chạm nhau; ta sẽ chẳng áy náy, chẳng dè nể, chẳng thương xót, chẳng chi ngăn ta hủy diệt chúng nó.
14A e ulupa no wau ia lakou, kekahi maluna o kekahi, o na makuakane, a me na keikikane pu, wahi a Iehova; aole hoi au e aloha aku, aole au e hookuu, aole au e lokomaikai aku, aka, e anai aku no wau ia lakou.
15Hãy nghe và lắng tai, đừng kiêu ngạo, vì Đức Giê-hô-va đã phán.
15E hoolohe mai oukou, a e haliu mai hoi ka pepeiao: mai hookano, no ka mea, ua olelo no o Iehova.
16Hãy dâng vinh quang cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, trước khi Ngài chưa khiến sự tối tăm đến, trước khi chân các ngươi chưa vấp trên những hòn núi mù mịt. Bấy giờ các ngươi đợi ánh sáng, nhưng Ngài sẽ đổi nó ra bóng sự chết, hóa nên bóng tối mờ.
16E hoonani aku ia Iehova, i ko oukou Akua, mamua o kona hoopoeleele ana mai, a mamua hoi o ke kulanalana ana o ko oukou mau wawae ma na mauna pouli, a oiai oukou e kakali i ka malamalama, hoolilo oia ia i aka no ka make, a hana hoi i pouli loa.
17Nếu các ngươi chẳng nghe, linh hồn ta sẽ khóc thầm về sự kiêu ngạo các ngươi. Thật, mắt ta sẽ khóc nhiều, giọt lụy tuôn rơi, vì bầy của Đức Giê-hô-va bị bắt đi.
17Aka, ina aole oukou e hoolohe ia, alaila, e uwe no kuu uhane no oukou ma na wahi malu, no ka hookano; a e uwe nui loa no ko'u mau maka, a kahe ka waimaka, no ka mea, ua lawepioia ka poe hipa a Iehova.
18Hãy tâu cùng vua và thái hậu rằng: Xin hãy hạ mình, mà ngồi dưới đất; vì mão triều thiên vinh hiển trên đầu đã rớt xuống rồi.
18E i aku i ke alii kane a i ke alii wahine, E hoohaahaa ia olua iho, e noho ilalo; no ka mea, e hoohaahaaia no ko olua mau pookela, a me ka leialii o ko olua nani.
19Các thành phương nam đều đóng lại, chẳng ai mở ra. Giu-đa bị bắt đem đi, cả họ đều bị bắt đem đi.
19E paniia no na kulanakauhale o ke kukulu hema, aohe mea nana e wehe: e lawepioia o ka Iuda a pau, e lawepioia a lilo loa no.
20hãy ngước mắt lên; xem những kẻ đến từ phương bắc. Chớ nào bầy chiên đẹp đẽ đã được ban cho ngươi ở đâu?
20E alawa'e i ko oukou mau maka iluna, a e nana i ka poe e hele ana, mai ke kukulu akau mai. Auhea ka poe hipa i haawiia nau, o ka poe hipa hoi o kou nani?
21Khi Đức Giê-hô-va lập những người mà ngươi đã dạy làm bạn hữu lên làm đầu ngươi, thì ngươi sẽ nói làm sao? Sự buồn rầu há chẳng bắt lấy ngươi như bắt lấy đàn bà sanh đẻ?
21Pehea la oe e olelo ai i ka wa e hoopai mai oia ia oe? Aole anei e loohia oe i ka eha e like me ka wahine hanau keiki, no ka mea, ua ao aku no oe ia lakou e noho kapena, a e noho alii maluna ou.
22Và nếu ngươi tự nói trong lòng rằng: Cớ sao điều nầy xảy đến cho ta? Aáy là vì tội ác ngươi lớn lắm, nên vạt áo ngươi bị tốc lên, và gót chân ngươi bị giập.
22A ina olelo oe ma kou naau, No ke aha la i hiki mai ai keia mau mea maluna o'u? No ka nui loa o kou hewa i laweia'ku la na hua lole ou, ua waiho wale ia kou mau kuekue wawae.
23Người Ê-thi-ô-bi có thể đổi được da mình, hay là con beo đổi được vằn nó chăng? Nếu được thì các ngươi là kẻ đã làm dữ quen rồi, sẽ làm lành được.
23E hiki anei i ko Aitiopa ke hoano e i kona ili, a me ka leopadi i kona mau kiko? alaila oukou, ka poe maa i ka hana hewa, e hiki ai ke hana maikai.
24Vậy ta sẽ làm cho các ngươi tan lạc như rơm rác bị gió nơi đồng vắng đùa đi.
24Nolaila, e hoopuehu aku au ia lakou, e like me ka opala i lilo aku la i ka makani o ka waoakua.
25Đức Giê-hô-va phán: Đó là phần ngươi, phần ta lường cho ngươi, vì ngươi đã quên ta và trông cậy sự giả dối.
25Oia no kou mea loaa, o ka haawina nou i anaia e au, wahi a Iehova; no ka mea, ua hoopoina mai oe ia'u, a ua hilinai hoi i ka mea wahahee.
26Ta cũng sẽ tốc vạt áo ngươi lên trên mặt ngươi, thì sự xấu hổ ngươi sẽ bày tỏ.
26Nolaila au e wehe ae ai i ka hua lole ou iluna ma kou maka, i ikeia kou wahi hilahila.
27Những sự gớm ghiếc, tức là sự dâm dục, và tiếng hí ngươi, tội ác tà dâm ngươi trên các gò đồng ruộng, thì ta đã thấy hết. Hỡi Giê-ru-sa-lem, khốn thay cho ngươi! Ngươi chẳng khứng làm sạch mình cho đến chừng nào?
27Ua ike no wau i kou moekolohe ana, a me kou hau ana, a me ka hewa o kou hookamakama, a me kau hana hoopailua maluna o na puu ma ke kula. Auwe oe, e Ierusalema! Aole anei oe e hoomaemaeia? Pehea la ka loihi?
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.