Giê 13
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
JPS Tanakh (Jewish Publication Society, 1917)
1Đức Giê-hô-va phán cùng tôi như vầy: Hãy đi, mua cho ngươi một cái đai gai, thắt vào lưng ngươi; nhưng chớ dầm trong nước.
1Thus said the LORD unto me: 'Go, and get thee a linen girdle, and put it upon thy loins, and put it not in water.'
2Vậy tôi theo lịnh Đức Giê-hô-va, mua đai, thắt vào lưng tôi.
2So I got a girdle according to the word of the LORD, and put it upon my loins.
3Lời của Đức Giê-hô-va truyền cho tôi lần thứ hai như vầy:
3And the word of the LORD came unto me the second time, saying:
4Hãy lấy cái đai ngươi đã mua đang thắt trên lưng ngươi; chờ dậy, đi đến bờ sông Ơ-phơ-rát, và giấu nó trong kẽ vầng đá tại đó.
4'Take the girdle that thou hast gotten, which is upon thy loins, and arise, go to Perath, and hide it there in a cleft of the rock.'
5Tôi bèn đi giấu nó nơi bờ sông Ơ-phơ-rát, như Đức Giê-hô-va đã phán dặn.
5So I went, and hid it in Perath, as the LORD commanded me.
6Sau đó nhiều ngày, Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: Hãy chờ dậy, đi đến bờ sông Ơ-phơ-rát, lấy cái đai ta đã khiến ngươi giấu tại đó.
6And it came to pass after many days, that the LORD said unto me: 'Arise, go to Perath, and take the girdle from thence, which I commanded thee to hide there.'
7Tôi đi đến sông Ơ-phơ-rát; đào và rứt cái đai ra từ chỗ tôi đã giấu trước kia. Nhưng cái đai hư hết, không dùng chi được nữa.
7Then I went to Perath, and digged, and took the girdle from the place where I had hid it; and, behold, the girdle was marred, it was profitable for nothing.
8Đoạn, lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng:
8Then the word of the LORD came unto me, saying:
9Đức Giê-hô-va phán như vầy: Ta sẽ làm hư sự kiêu ngạo của Giu-đa, và sự kiêu ngạo lớn của Giê-ru-sa-lem đồng một thể nầy.
9Thus saith the LORD: After this manner will I mar the pride of Judah, and the great pride of Jerusalem,
10Dân ác nầy chẳng khứng nghe lời ta, bước theo sự cứng cỏi của lòng mình, theo các thần khác mà hầu việc và thờ lạy, thì sẽ trở nên như cái đai nầy không còn dùng được việc gì.
10even this evil people, that refuse to hear My words, that walk in the stubbornness of their heart, and are gone after other gods to serve them, and to worship them, that it be as this girdle, which is profitable for nothing.
11Đức Giê-hô-va phán: Như cái đai dính vào lưng người, thì ta khiến cả nhà Y-sơ-ra-ên và cả nhà Giu-đa dính vào ta cũng vậy, đặng chúng nó làm dân ta, làm danh vọng, ca tụng, vinh quang ta; nhưng chúng nó chẳng khứng nghe.
11For as the girdle cleaveth to the loins of a man, so have I caused to cleave unto Me the whole house of Israel and the whole house of Judah, saith the LORD, that they might be unto Me for a people, and for a name, and for a praise, and for a glory; but they would not hearken.
12Ngươi khá bảo chúng nó lời nầy: Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên có phán rằng: Hễ là bình thì sẽ được đầy rượu. Chúng sẽ nói cùng ngươi rằng: Chúng tôi há chẳng biết các bình đều sẽ đầy rượu sao?
12Moreover thou shalt speak unto them this word: Thus saith the LORD, the God of Israel: 'Every bottle is filled with wine'; and when they shall say unto thee: 'Do we not know that every bottle is filled with wine?'
13Ngươi khá lại bảo rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta sẽ khiến hết thảy dân cư đất nầy, các vua ngồi trên ngai Đa-vít, các thầy tế lễ, các kẻ tiên tri, và hết thảy dân cư Giê-ru-sa-lem đều say sưa.
13Then shalt thou say unto them: Thus saith the LORD: Behold, I will fill all the inhabitants of this land, even the kings that sit upon David's throne, and the priests, and the prophets, and all the inhabitants of Jerusalem, with drunkenness.
14Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ làm cho người nầy với kẻ khác, cha với con, chạm nhau; ta sẽ chẳng áy náy, chẳng dè nể, chẳng thương xót, chẳng chi ngăn ta hủy diệt chúng nó.
14And I will dash them one against another, even the fathers and the sons together, saith the LORD; I will not pity, nor spare, nor have compassion, that I should not destroy them.
15Hãy nghe và lắng tai, đừng kiêu ngạo, vì Đức Giê-hô-va đã phán.
15Hear ye, and give ear, be not proud; for the LORD hath spoken.
16Hãy dâng vinh quang cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, trước khi Ngài chưa khiến sự tối tăm đến, trước khi chân các ngươi chưa vấp trên những hòn núi mù mịt. Bấy giờ các ngươi đợi ánh sáng, nhưng Ngài sẽ đổi nó ra bóng sự chết, hóa nên bóng tối mờ.
16Give glory to the LORD your God, before it grow dark, and before your feet stumble upon the mountains of twilight, and, while ye look for light, He turn it into the shadow of death, and make it gross darkness.
17Nếu các ngươi chẳng nghe, linh hồn ta sẽ khóc thầm về sự kiêu ngạo các ngươi. Thật, mắt ta sẽ khóc nhiều, giọt lụy tuôn rơi, vì bầy của Đức Giê-hô-va bị bắt đi.
17But if ye will not hear it, my soul shall weep in secret for your pride; and mine eyes shall weep sore, and run down with tears, because the LORD'S flock is carried away captive.
18Hãy tâu cùng vua và thái hậu rằng: Xin hãy hạ mình, mà ngồi dưới đất; vì mão triều thiên vinh hiển trên đầu đã rớt xuống rồi.
18Say thou unto the king and to the queen-mother: 'Sit ye down low; for your headtires are come down, even your beautiful crown.'
19Các thành phương nam đều đóng lại, chẳng ai mở ra. Giu-đa bị bắt đem đi, cả họ đều bị bắt đem đi.
19The cities of the South are shut up, and there is none to open them; Judah is carried away captive all of it; it is wholly carried away captive.
20hãy ngước mắt lên; xem những kẻ đến từ phương bắc. Chớ nào bầy chiên đẹp đẽ đã được ban cho ngươi ở đâu?
20Lift up your eyes, and behold them that come from the north; where is the flock that was given thee, thy beautiful flock?
21Khi Đức Giê-hô-va lập những người mà ngươi đã dạy làm bạn hữu lên làm đầu ngươi, thì ngươi sẽ nói làm sao? Sự buồn rầu há chẳng bắt lấy ngươi như bắt lấy đàn bà sanh đẻ?
21What wilt thou say, when He shall set the friends over thee as head, whom thou thyself hast trained against thee? Shall not pangs take hold of thee, as of a woman in travail?
22Và nếu ngươi tự nói trong lòng rằng: Cớ sao điều nầy xảy đến cho ta? Aáy là vì tội ác ngươi lớn lắm, nên vạt áo ngươi bị tốc lên, và gót chân ngươi bị giập.
22And if thou say in thy heart: 'Wherefore are these things befallen me?' — for the greatness of thine iniquity are thy skirts uncovered, and thy heels suffer violence.
23Người Ê-thi-ô-bi có thể đổi được da mình, hay là con beo đổi được vằn nó chăng? Nếu được thì các ngươi là kẻ đã làm dữ quen rồi, sẽ làm lành được.
23Can the Ethiopian change his skin, or the leopard his spots? Then may ye also do good, that are accustomed to do evil.
24Vậy ta sẽ làm cho các ngươi tan lạc như rơm rác bị gió nơi đồng vắng đùa đi.
24Therefore will I scatter them, as the stubble that passeth away by the wind of the wilderness.
25Đức Giê-hô-va phán: Đó là phần ngươi, phần ta lường cho ngươi, vì ngươi đã quên ta và trông cậy sự giả dối.
25This is thy lot, the portion measured unto thee from Me, saith the LORD; because thou hast forgotten Me, and trusted in falsehood.
26Ta cũng sẽ tốc vạt áo ngươi lên trên mặt ngươi, thì sự xấu hổ ngươi sẽ bày tỏ.
26Therefore will I also uncover thy skirts upon thy face, and thy shame shall appear.
27Những sự gớm ghiếc, tức là sự dâm dục, và tiếng hí ngươi, tội ác tà dâm ngươi trên các gò đồng ruộng, thì ta đã thấy hết. Hỡi Giê-ru-sa-lem, khốn thay cho ngươi! Ngươi chẳng khứng làm sạch mình cho đến chừng nào?
27Thine adulteries, and thy neighings, the lewdness of thy harlotry, on the hills in the field have I seen thy detestable acts. Woe unto thee, O Jerusalem! thou wilt not be made clean! When shall it ever be?
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.