II Vua
Chapter 3
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Giô-ram, con trai A-háp, lên ngôi làm vua Y-sơ-ra-ên tại Sa-ma-ri, năm thứ mười tám đời vua Giô-sa-phát vua Giu-đa, và cai trị mười hai năm.
1Judah siangpahrang Jehosaphat siangpahrang ah ohhaih saning hatlaitazetto naah, Ahab capa Jehoram loe Samaria ah Israel siangpahrang ah oh. Anih mah Samaria to saning hatlaihnetto uk.
2Người làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va, song không giống như cha và mẹ người; bởi vì người có trừ bỏ tượng thần Ba-anh mà cha người đã dựng lên.
2Anih loe Angraeng mikhnukah kahoih ai hmuen to sak; anih loe ampa hoi amno mah sak ih kasae hmuen to sah ai; anih loe ampa mah sak ih Baal krang to phraek king.
3Dầu vậy, người cũng ham theo tội lỗi của Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, tức là tội đã gây cho Y-sơ-ra-ên can phạm. Người chẳng hề chịu bỏ đi.
3Toe Israel kaminawk zaehaih sahsak, Nebat capa Jeroboam mah sak ih zaehaih to caehtaak ai ah, a sak toeng.
4Vả, Mê-sa, vua dân Mô-áp, nuôi nhiều bầy chiên, hằng năm người tiến cống cho vua Y-sơ-ra-ên một trăm ngàn chiên con, và trăm ngàn chiên đực chưa hớt lông.
4Moab siangpahrang Mesha loe tuu pacah kami ah oh, anih mah Israel siangpahrang hanah tuucaa sang cumvaito, tuumui hoi tuutae sang cumvaito paek poe han oh.
5Nhưng xảy ra khi A-háp băng hà, vua Mô-áp dấy nghịch cùng vua Y-sơ-ra-ên.
5Toe Ahab duek pacoengah loe, Moab siangpahrang mah Israel siangpahrang to misa angthawk thuih.
6Bấy giờ, vua Giô-ram đi ra khỏi Sa-ma-ri kiểm điểm cả Y-sơ-ra-ên.
6To nathuem ah Jehoram siangpahrang loe Samaria hoiah caeh moe, Israel kaminawk to kroek.
7Người sai báo với Giô-sa-phát, vua Giu-đa, rằng: Dân Mô-áp đã phản nghịch cùng tôi. Vua có muốn đến cùng tôi giao chiến với Mô-áp chăng? Giô-sa-phát đáp rằng: Tôi sẽ đi; tôi như ông, dân sự tôi như dân sự ông, ngựa tôi như ngựa của ông.
7Judah siangpahrang Jehosaphat khaeah kami to patoeh moe, Moab siangpahrang mah kai misa angthawk thuih boeh; Moab tuk hanah nang bomh han maw? tiah a naa. Anih mah, Kang bomh han, Kai doeh nang baktiah ka oh moe, kai ih kaminawk doeh nang ih kami, kai ih hrangnawk doeh, nang ih hrang baktiah ni oh, tiah a naa.
8Người lại tiếp: Chúng ta sẽ đi lên đường nào? Giô-ram đáp: Bởi con đường của đồng vắng Ê-đôm.
8Anih mah, na bang ih loklam hoiah maw a caeh o tahang han? tiah a naa. Jehoram mah Edom praezaek bang hoiah caeh si, tiah a naa.
9Aáy vậy, vua Y-sơ-ra-ên, vua Giu-đa và vua Ê-đôm đồng kéo ra, đi vòng bảy ngày đường, đoạn họ không có nước cho đạo binh và súc vật theo.
9To pongah Israel siangpahrang, Judah siangpahrang hoi Edom siangpahrangnawk loe nawnto caeh o; ni sarihto caeh o pacoeng loe, misatuh kaminawk hoi a hoih o ih moinawk naek hanah tui to tawn o ai boeh.
10Vua Y-sơ-ra-ên bèn nói rằng: Than ôi! Đức Giê-hô-va đã gọi ba vua này đến đặng nộp vào tay Mô-áp.
10To naah Israel siangpahrang mah, Alas! Angraeng mah hae siangpahrang thumtonawk hae, Moab kaminawk ban ah paek boeh mue! tiah thuih.
11Nhưng Giô-sa-phát hỏi: ỳ đây há chẳng có tiên tri nào của Đức Giê-hô-va để chúng ta nhờ người mà cầu vấn Đức Giê-hô-va chăng? Một đầy tớ của vua Y-sơ-ra-ên thưa rằng: ỳ đây có Ê-li-sê, con trai của Sa-phát, là kẻ đã hầu việc Ê-li.
11Toe Jehosaphat mah, Angraeng khaeah lokdueng hanah, hae ah Angraeng ih tahmaa maeto doeh om ai maw? tiah a naa. To naah Israel siangpahrang ih tamna maeto mah, Elijah ban amsaeh han tui bawhkung, Shaphat capa Elisha hae ah oh, tiah a naa.
12Giô-sa-phát tiếp: Lời phán của Đức Giê-hô-va vốn ở nơi người. Vậy, vua Y-sơ-ra-ên, Giô-sa-phát, và vua Ê-đôm, bèn đi đến người.
12Jehosaphat mah, Angraeng ih lok loe anih khaeah oh, tiah thuih pae. To pongah Israel siangpahrang, Jehosaphat hoi Edom siangpahrang to anih khaeah caeh o tathuk.
13Ê-li-sê nói với vua Y-sơ-ra-ên rằng: Vua và tôi có can hệ gì chăng? Khá đi cầu vấn các tiên tri của cha và mẹ vua. Vua Y-sơ-ra-ên đáp rằng: Chẳng vậy đâu; vì Đức Giê-hô-va đã gọi ba vua này đến, đặng nộp vào tay Mô-áp.
13Elisha mah Israel siangpahrang khaeah, Nang hoi timaw asaenghaih oh, nampa ih tahmaa hoi namno ih tahmaanawk khaeah caeh khae, tiah a naa. Israel siangpahrang mah, To tih na ai ni, hae siangpahrang thumtonawk loe Moab kaminawk ban ah paek hanah Angraeng mah nawnto pakhueng boeh, tiah a naa.
14Ê-li-sê bèn nói: Đức Giê-hô-va vạn quân hằng sống, tôi đứng trước mặt Ngài, mà thề rằng, nếu tôi không kính nể Giô-sa-phát, vua Giu-đa, thì tôi chẳng xem vua ra sao, và cũng không thấy đến nữa.
14Elisha mah, Tok ka sak pae ih, Misatuh Angraeng loe hing pongah, Judah siangpahrang Jehosaphat ih mikhmai ka khen ai nahaeloe, nang hae hnuk hanah ka koeh ai, khet mataeng doeh kang khen mak ai.
15Nhưng bây giờ, hãy đem đến cho tôi một người khảy đàn. Trong lúc người ấy khảy đàn, thì tay của Đức Giê-hô-va ở trên Ê-li-sê.
15Toe katoeng kruek kop kami maeto angzo o haih ah, tiah a naa. Katoeng kruek kop kami mah katoeng to kruek naah, Elisha nuiah Angraeng ih ban to oh.
16Người nói: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hãy đào cho nhiều hầm hố khắp trong trũng này.
16Angraeng mah, Hae vacong hae tui ka koisak han, tiah thuih.
17Vì Đức Giê-hô-va phán rằng: Các ngươi sẽ không thấy gió, cũng chẳng thấy mưa, thế mà trũng này sẽ đầy dẫy nước, và các ngươi, bầy chiên, cùng súc vật của các ngươi, đều sẽ uống nước được.
17Angraeng mah, Takhi hoi khotui to na hnu o mak ai; toe to ih vacongnawk loe tui hoiah koi o boih tih; nangmah hoi nangmah ih moinawk mah naek o pacoengah, kalah taw ih moinawk boih mah doeh nae o tih, tiah thuih.
18Nhưng Đức Giê-hô-va coi sự này là nhỏ mọn quá: Ngài lại sẽ phó luôn dân Mô-áp vào tay các ngươi.
18Hae hmuen loe Angraeng mikhnukah zoidaek hmuen ah ni oh; Moab kaminawk doeh nangcae ban ah na paek tih.
19Các ngươi sẽ phá hủy hết thảy những thành kiên cố, những thành thị tứ, đốn những cây tốt, bít mọi suối nước, và lấy đá làm hư hại đồng ruộng màu mỡ.
19Sipae hoi thungh ih vangpuinawk hoi kahoih koek vangpuinawk to phrae o boih ah; kahoih thingnawk to pakhruh o boih ah loe, tuikhawnawk to taet o boih ah; kahoih longnawk doeh thlung hoiah aphum oh loe, paro o boih ah, tiah a naa.
20Vậy, buổi sáng, nhằm giờ người ta dâng của lễ chay, thấy nước bởi đường Ê-đôm đến, và xứ bèn đầy những nước.
20Khawnbang cang hoi angbawnhaih atue phak naah loe, khenah, Edom bang hoiah tui to long, prae loe tui hoiah koi.
21Khi dân Mô-áp hay rằng các vua ấy đi lên đặng đánh mình, thì nhóm hết thảy những người có thể nai nịch binh khí được trở lên, và đứng tại bờ cõi xứ.
21Moab kaminawk boih mah nihcae tuk hanah siangpahrang thumto angzoh o boeh, tiah thaih o naah, nihcae loe nawkta mitong tih ai, maiphaw sin thaih kaminawk boih to kawk moe, ramri ah angangsak.
22Ngày sau dân Mô-áp chổi dậy thật sớm; khi mặt trời mọc soi trên nước, dân Mô-áp thấy trước mặt mình nước đỏ như máu,
22Khawnbang khawnthaw angthawk o naah, ni aengh mah tui to kah, to naah Moab kaminawk mah ho bang yaeh hoiah, athii baktiah kathim tui to a hnuk o.
23thì la lên rằng: Aáy là máu! Chắc ba vua ấy đã tranh chiến nhau, đánh giết lẫn nhau. Bây giờ, hỡi dân Mô-áp! hãy đi cướp của.
23To naah nihcae mah, Hae loe athii boeh ni! Siangpahrangnawk loe angmacae hoi angmacae anghum o boeh; to pongah Moab kaminawk, vaihi nihcae ih hmuenmae to la o si, tiah thuih o.
24Vậy, chúng đi đến trại quân Y-sơ-ra-ên; nhưng dân Y-sơ-ra-ên chổi dậy, hãm đánh dân Mô-áp, chúng nó chạy trốn khỏi trước mặt dân Y-sơ-ra-ên. Đoạn, dân Y-sơ-ra-ên loán vào xứ, hãm đánh Mô-áp.
24Israel kaminawk ataihaih ahmuen ah Moab kaminawk angzoh o naah, Israelnawk mah angang o moe, Moab kaminawk to takroek o; nihcae loe Israelnawk hmaa ah cawnh o; Israelnawk mah nihcae to Moab prae karoek to patom o moe, hum o.
25Họ phá hủy các thành, ai nấy lấy đá liệng vào lấp các đồng ruộng màu mỡ, bít các nguồn nước, và đốn những cây tốt. tại Kiệt-Ha-rê-sết chỉ còn lại những vách thành: Những quân ném đá cũng vây xông phá các vách đó nữa.
25Vangpui boih phraek pae o, lawk kahoih ahmuennawk boih to thlung koi mongah vah pae o; tuikhawnawk to patet pae o moe, kahoih thingnawk to pakruk pae o king; Kir-Haraseth vangpui ih sipae thlungnawk khue ni caeh o taak, toe ngazai sin kaminawk mah to vangpui to takui o moe, tuk o.
26Vua Mô-áp thấy mình không thế chống nổi, bèn đem theo mình bảy trăm người cầm gươm, toan xông đến nơi vua Ê-đôm; nhưng không thế nào được.
26Moab siangpahrang mah, misa mah pazawk tih boeh, tiah panoek naah, Edom siangpahrang ataihaih ahmuen hoiah misatuk hanah, sumsen sin kami cumvai sarihtonawk to caeh haih, toe anih mah pazawk thai ai.
27Người bèn bắt thái tử, là kẻ phải kế vị mình, dâng làm của lễ thiêu tại trên vách thành. Bèn có cơn thạnh nộ nổi phừng cùng Y-sơ-ra-ên; thì họ lìa khỏi vua Mô-áp, và trở về xứ mình.
27To pacoengah angmah zuengah siangpahrang ah kaom han koi calu to lak moe, vangpui sipae nuiah angbawnhaih to a sak; to tiah sakhaih to Israelnawk hanah paroeai panuet thok hmuen ah poek o pongah, angqoi o moe, angmacae prae ah amlaem o taak.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.