II Vua
Chapter 22
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Khi Giô-si-a lên làm vua, được tám tuổi; người cai trị ba mươi mốt năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ người tên là Giê-đi-đa, con gái của A-đa-gia, cháu Bô-cát.
1Josiah siangpahrang ah oh naah saning tazetto ni oh vop; anih mah Jerusalem to saning quithumto pacoeng, saningto uk. Anih ih amno loe Boskath ah kaom Adaiah canu, Jedidah.
2Người làm điều thiện trước mặt Đức Giê-hô-va, đi theo trọn con đường của Đa-vít, tổ phụ mình, không tẻ tách hoặc về bên hữu, hoặc về bên tả.
2Anih loe Angraeng mikhnukah kahoih hmuen to sak; anih loe ampa David ih loklam to pazui moe, banqoi bantang amkhraeng taak ai.
3Năm thứ mười tám đời Giô-si-a, vua sai thơ ký Sa-phan, con trai A-xa-lia, cháu Mê-su-lam, đến đền Đức Giê-hô-va, mà dặn rằng:
3Siangpahrang ah ohhaih saning hatlai tazetto naah, Josiah siangpahrang mah Meshullam capa Azaliah, Azaliah capa, ca tarik kami, Shaphan to Angraeng im ah patoeh moe, anih khaeah,
4Hãy đi lên thầy tế lễ thượng phẩm Hinh-kia, đếm bạc đã đem đến trong đền thờ của Đức Giê-hô-va, tức là bạc mà các người giữ cửa đền thờ đã thâu lấy nơi dân sự;
4qaima Hilkiah khaeah caeh tahangh loe, Angraeng ih im ah sin o ih phoisa hoi khongkha toep kaminawk mah minawk khaeah cong o ih phoisa to kroek ah;
5đoạn hãy giao bạc ấy cho những kẻ coi sóc việc đền thờ của Đức Giê-hô-va, để họ giao lại cho thợ sửa sang các nơi hư nứt của đền thờ,
5to phoisanawk to im toksah kaminawk hoi im khawngkungnawk khaeah paek o nasoe; kamro Angraeng im pakhraih hanah, Angraeng im ah toksah kaminawk hanah paek o nasoe.
6tức thợ mộc, thợ xây cất, thợ hồ, và dùng mua gỗ và đá đẽo đặng tu bổ đền lại.
6Thing tok sah thaih kaminawk, im sah kop kaminawk hoi param long sui kop kaminawk to paek o nasoe loe, im pakhraih hanah thing hoi aah tangcae thlungnawk qan hanah paek o nasoe, tiah a naa.
7Song chớ tính sổ bạc giao nơi tay chúng, vì chúng vốn làm thành thực.
7Toe phoisa patung kaminawk loe oepthoh pongah, kroek han angaih ai.
8Thầy tế lễ thượng phẩm Hinh-kia nói với thơ ký Sa-phan rằng: Tôi đã tìm được quyển luật pháp trong đền thờ Đức Giê-hô-va. Hinh-kia trao quyển sách đó cho Sa-phan, và người đọc nó.
8Qaima Hilkiah mah ca tarik kami, Shaphan khaeah, Angraeng ih tempul thungah Kaalok cabu ka hnuk, tiah a naa. Hilkiah mah cabu to Shaphan khaeah paek moe, anih mah kroek.
9Đoạn, thơ ký Sa-phan đến tìm vua, thuật lại điều này mà rằng: Các tôi tớ vua đã đóng bạc tìm đặng trong đền thờ, và đã giao nơi tay các người lo coi sóc công việc đền thờ của Đức Giê-hô-va.
9Ca tarikkung, Shaphan loe siangpahrang khaeah caeh moe, Na tamnanawk mah Angraeng imthung ah hnuk o ih phoisa kroek o pacoengah, im khenzawn kami hoi toksah kaminawk khaeah suek o boeh, tiah a naa.
10Thơ ký Sa-phan lại nói rằng: Thầy tế lễ thượng phẩm Hinh-kia có trao cho tôi một quyển sách; đoạn, Sa-phan đọc sách đó trước mặt vua.
10Ca tarikkung, Shaphan mah siangpahrang khaeah, Qaima Hilkiah mah cabu maeto ang paek, tiah a naa. Siangpahrang khaeah patuek, Shaphan mah siangpahrang hmaa ah cabu to kroek pae.
11Vua vừa nghe các lời của sách luật pháp, liền xé quần áo mình.
11Kaalok cabu thung ih loknawk to siangpahrang mah thaih naah, angmah ih khukbuen to asih.
12Đoạn, vua truyền lịnh cho thầy tế lễ Hinh-kia, cho A-hi-cam, con trai Sa-phan, cho Aïc-bồ, con trai Mi-ca-gia, cho Sa-phan, thơ ký, và cho A-sa-gia, đầy tớ của vua, mà rằng:
12Siangpahrang mah qaima Hilkiah, Shaphan capa Ahikam, Mikaiah capa Akbor, ca tarikkung, Shaphan hoi siangpahrang ih tamna Asahiah khaeah,
13Hãy đi cầu vấn Đức Giê-hô-va cho ta, cho dân sự, và cho cả Giu-đa, về các lời của sách mới tìm được. Vì cơn giận của Đức Giê-hô-va nổi lên cùng chúng ta thật là lớn lao, tại tổ phụ chúng ta không có nghe theo các lời của sách này, và không làm theo điều đã truyền phán cho chúng ta.
13hnuk ih Kaalok cabu kawng pongah, caeh oh loe, kaimah hoi kaimah ih kaminawk, Judah kaminawk boih hanah, Angraeng khaeah lokdueng oh; hae cabu thungah aicae han tarik ih loknawk hae ampanawk mah tahngai o ai, cabu thungah tarik ih lok baktiah pazui o ai pongah ni, Angraeng palungphuihaih aicae nuiah krak, tiah a naa.
14Vậy, thầy tế lễ Hinh-kia, A-hi-cam, Aïc-bồ, Sa-phan, và A-sa-gia đi tìm nữ tiên tri Hun-đa, vợ của Sa-lum, người giữ áo lễ, con trai của Tiếc-va, cháu của Hạt-ha; người ở tại Giê-ru-sa-lem, trong quận thứ nhì. Chúng nói chuyện với nàng,
14To nathuem ah Harhas capa Tikvah, Tikvah capa Shalum ih zu, tahmaa nongpata Huldah loe, kahni khenzawnkung ah oh moe, Jerusalem vangpui ah oh; qaima Hilkiah, Ahikam, Akbor, Shaphan hoi Asahiah cae loe anih khaeah caeh o moe, anih hoi nawnto lok aram o.
15nàng bèn nói rằng: Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên nói như vầy: Hãy nói với người sai các ngươi đến ta rằng:
15Tahmaa nongpata mah nihcae khaeah, Israel Angraeng Sithaw mah, hae tiah thuih; kai khaeah patoeh ih kaminawk khaeah,
16Đức Giê-hô-va phán như vầy: Ta sẽ dẫn tai họa trên chỗ này và trên dân cư nó, làm hoàn thành mọi lời của sách mà vua Giu-đa đã đọc.
16Angraeng mah, Khenah, Judah siangpahrang mah kroek ih cabu thungah tarik ih lok baktih toengah, kai mah hae ahmuen ah amrohaih ka phaksak han;
17Bởi vì dân Giu-đa đã lìa bỏ ta, đốt hương cho các thần khác, chọc giận vì các công việc của tay chúng nó, nên cơn giận ta sẽ nổi lên cùng chỗ này, không hề nguôi.
17nihcae mah kai ang pahnawt o moe, kalah sithawnawk khaeah hmuihoih to thlaek o; angmacae ban hoi sak ih krangnawk hoiah kai palung ang phui o sak pongah, hae ahmuen loe palung ka phuihaih hmai mah kangh tih, paduek thaih mak ai boeh, tiah thuih.
18Còn về vua Giu-đa đã sai các người cầu vấn Đức Giê-hô-va, thì hãy nói với người rằng: Về các lời người đã nghe Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán như vầy:
18Angraeng lokdueng hanah nangcae patoehkung, Judah siangpahrang khaeah, Israel Angraeng Sithaw mah, Na thaih o ih lok pongah hae tiah thuih;
19Khi ngươi nghe lời ta phán nghịch cùng chỗ này, và nghịch cùng dân cư nó rằng, chỗ này sẽ bị phá hoang, dân cư trở thành rủa sả, thì ngươi có lòng mềm mại, hạ mình xuống trước mặt Đức Giê-hô-va, xé quần áo mình, và khóc lóc trước mặt ta; bởi vậy cho nên ta cũng có nghe ngươi.
19hae ahmuen ih kaminawk loe amrohaih hoi kasae thuihaih ah om o tih, tiah hae ahmuen hoi hae ah kaom kaminawk mah ka lok to thaih o naah, palungthin amnaeng o sak moe, Angraeng hmaa ah poeknaemhaih hoiah oh o, angmacae ih khukbuen asihhaih hoiah ka hmaa ah qah o pongah, na lok to ka tahngaih, tiah Angraeng mah thuih, tiah thui pae oh.
20Kìa, ta sẽ thâu ngươi về cùng các tổ phụ ngươi; và ngươi sẽ được thâu vào nơi mồ mả ngươi cách bình an, và mắt ngươi sẽ chẳng thấy những điều tai họa mà ta toan giáng xuống trên chỗ nầy. Chúng bèn tâu lại cho vua những lời ấy.
20To pongah, khenah, kai mah nam panawk khaeah kang pakuem pongah, nang loe taprong ah kamongah na phum o tih; hae ahmuen ah ka phaksak han ih amrohaih loe na mik hoiah na hnu mak ai, tiah a naa. Nihcae mah lok to siangpahrang khaeah sinh pae o let.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.