Pjalm
Chapter 31
Kadede Kap (Pohnpeian Ne…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Kadede Kap (Pohnpeian New Testament and Psalms)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1MAI N , i liki komui, kom kotin ieia n ia, pwe i ender namenokala kokolata; dore kin ia la duen omui pu n .
1Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi nương náu mình nơi Ngài; Chớ hề để tôi bị hổ thẹn; Xin hãy lấy công bình Ngài mà giải cứu tôi.
2Kapaikidi do n ia karo n ar akan, mada n jauaja ia! Kom kotin wiala ai paipalap rojo n , o kele pa i, pwen jauaja ia!
2Khá nghiêng tai qua tôi, mau mau giải cứu tôi. Hãy làm hòn đá vững chắc cho tôi, Một đồn lũy để cứu tôi.
3Pwe komui ai paip, o ai kel. Kom kotin kalua ia pweki mar omui.
3Vì Chúa là hòn đá và đồn lũy tôi; Xin dẫn dắt tôi nhân danh Chúa.
4Kom kotin api ia ja n nan injar, me re wiai o n ia, pwe komui kele pa i.
4Xin Chúa gỡ tôi khỏi lưới mà chúng nó gài kín tôi; Vì Chúa là nơi bảo hộ tôi.
5I kakaliki o n komui n en i; kom kotin dore ia la, komui Mai n Kot melel.
5Tôi phó thác thần linh tôi vào tay Chúa: Hỡi Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời chân thật, Ngài đã chuộc tôi.
6I juedeki me kin kaporoporeki dikedik en ani mal akan, a i liki Ieowa.
6Tôi ghét những kẻ thờ hình tượng hư không; Nhưng tôi tin cậy nơi Đức Giê-hô-va.
7I pan pereperen o polauleki omui kala n an, pwe komui me kotin ma n i ai luet, o kotin kupura n en i ni anjau apwal.
7Tôi sẽ vui mừng và khoái lạc bởi sự nhân từ của Chúa; Vì Chúa đã đoái đến sự hoạn nạn tôi, biết nỗi sầu khổ linh hồn tôi.
8O re der mueid o n ai imwintiti, ren kaloe ia di. Kom kotin kajone na i kat nan waja jalatok.
8Chúa không nộp tôi vào tay kẻ thù nghịch, Song đặt chân tôi nơi rộng rãi.
9Ieowa, kom kotin maki o n ia, pwe i majak; maj ai juedelar ki ai mamauk, pil dueta n en I o pali war ai.
9Đức Giê-hô-va ôi! xin hãy thương xót tôi, vì tôi bị gian truân. Con mắt tôi hao mòn vì cớ buồn rầu, Linh hồn và thân thể tôi cũng vậy.
10Pwe maur i luet kilar ai injenjued, o ai par akan malaulaular ki ai ja n eja n , ai kelail tikitikelar pweki dip ai, o kokon aikna luetalar.
10Mạng sống tôi tiêu hao vì cớ buồn bực, Các năm tôi sút kém tại than thở; Vì cớ tội ác tôi, Sức mạnh tôi mỏn yếu, và xương cốt tôi tiêu tàn.
11Ai imwintiti kan karoj lalaue ia, o i wialar kanamenok pan men imp ai kan, o kamajak pan jau i kan; me kila n ia nani al o, kin tanwei ja n ia.
11Bởi cớ các cừu địch tôi, tôi trở nên sự ô nhục, Thật một sự ô nhục lớn cho kẻ lân cận tôi, và một vật sợ hãi cho những kẻ quen biết tôi; Kẻ nào thấy tôi ở ngoài đều trốn khỏi tôi.
12Aramaj monoke ia lar dueta me melar amen; n ai rajo n dal eu me mor paja n .
12Tôi bị chúng quên đi như kẻ chết mà lòng không còn nhớ đến; Tôi giống như một cái bình bể nát.
13Pwe i ro n er duen me toto kin pujerokio n ia; men kamajak kapil ia pena; re kin kapu n pena duen n ai, pwen kae ia la.
13Tôi đã nghe lời phao vu của nhiều kẻ, Tứ phía có sự kinh khủng: Đang khi chúng nó bàn nhau nghịch tôi, Bèn toan cất mạng sống tôi.
14A I kin kaporoporeki komui Mai n , I ap inda: Komui ta ai Kot!
14Nhưng Đức Giê-hô-va ôi! tôi tin cậy nơi Ngài; Tôi nói: Ngài là Đức Chúa Trời tôi.
15Ai anjau mi nan lim omui, dore ai ja n nan pa en ai imwintiti kan o ja n me kin pakipaki ia.
15K” mạng tôi ở nơi tay Chúa; Xin giải cứu tôi khỏi tay kẻ thù nghịch, và khỏi tay kẻ bắt bớ tôi.
16Kamarainki japwilim omui ladu jila n omui, dore ia ki omui, dore ia ki omui kala n an.
16Cầu xin soi sáng mặt Chúa trên kẻ tôi tớ Chúa, Lấy sự nhân từ Chúa mà cứu vớt tôi.
17Mai n , kom der kotin mueid o n , i en joredi; pwe i likwiri wo n komui. Me japu n kan en joredi, pwe irail en nenenla nan wajan mela.
17Đức Giê-hô-va ôi! nguyện tôi không bị hổ thẹn, vì tôi cầu khẩn Ngài. Nguyện kẻ ác phải xấu hổ và nín lặng nơi âm phủ!
18Kil en au en me likam akan mi nenenla, irail, me lalaue me pu n kan ni laumaum, o aklapalap, o kaurur.
18Nguyện các môi dối trá hay lấy lời xấc xược, Kiêu ngạo và khinh bỉ mà nói nghịch người công bình, Bị câm đi!
19Meid laud omui kala n an, me kom kotin nekinekid o n me Ian komui kan, o me kom kin kajale o n ir, me liki komui janjal mon aramaj akan.
19Sự nhân từ Chúa, Mà Chúa đã dành cho người kính sợ Chúa, Và thi hành trước mặt con cái loài người Cho những kẻ nương náu mình nơi Chúa, thật lớn lao thay!
20Kom kin kotin karir ir ala re omui ja n karoj, me kailo n kin ir, kom kin kadupal ir edi ja n mon lo akamai.
20Chúa giấu họ tại nơi ẩn bí ở trước mặt Chúa, cách xa mưu kế của loài người; Chúa che khuất họ trong một cái lều cách xa sự tranh giành của lưỡi.
21Kapi n a o n Ieowa, me kotin kala n an laud o n ia nan kanim te n ete n eu.
21Đáng ngợi khen Đức Giê-hô-va thay, Vì tại trong thành vững bền Ngài đã tỏ cho tôi sự nhân từ lạ lùng của Ngài!
22Pwe ni ai peikajal i indindar: I lokidokilar ja n mon jila n ar. Ari jo, kom kotin ereki n il en ai n idi n id, ni ai potoan wer wiwer o n komui.
22Trong cơn bối rối tôi nói rằng: Tôi bị truất khỏi trước mặt Chúa. Nhưng khi tôi kêu cầu cùng Chúa, Chúa bèn nghe tiếng nài xin của tôi.
23Komail japwilim a jaraui kan karoj, pok o n Ieowa! Ieowa kin kotin jinjila me pojon akan, ap depuk o n ir melel, me akla palap akan.
23Hỡi các thánh của Đức Giê-hô-va, hãy yêu mến Ngài. Đức Giê-hô-va gìn giữ những người thành tín, Nhưng báo cách nặng nề kẻ ăn ở kiêu ngạo.
24Komail karoj me kaporo poreki Ieowa, en kelail o der majak!
24Hỡi các người trông cậy nơi Đức Giê-hô-va, Hãy vững lòng bền chí.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.