II. Oihanaalii
Chapter 12
Baibala Hemolele (Hawaii…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1A PAA ke aupuni o Rehoboama, a ikaika hoi ia, alaila haalele oia i ke kanawai o Iehova, a me ia pu ka Iseraela a pau.
1Xảy khi nước của Rô-bô-am vừa được lập vững bền, và người được cường thạnh, thì người và cả Y-sơ-ra-ên liền bỏ luật pháp của Đức Giê-hô-va.
2A i ka lima o ka makahiki o ke alii o Rehoboama, pii mai la o Sisaka, ke alii o Aigupita i Ierusalema, no ka mea, ua lawehala lakou ia Iehova,
2Vì chúng có phạm tội cùng Đức Giê-hô-va, nên xảy ra trong năm thứ năm đời vua Rô-bô-am, Si-sắc, vua Ê-díp-tô, kéo lên hãm đánh Giê-ru-sa-lem;
3Me na kaa kaua he umikumamalua tausani, a me na hoohololio kanaono tausani, a me na kanaka i pau ole i ka heluia ka poe i hele pu me ia mai Aigupita mai; ka Luba, a me ka Suka, a me ka Kusa.
3có dẫn theo một ngàn hai trăm cỗ xe và sáu vạn lính kỵ; lại có dân Li-by, dân Su-ri, và dân Ê-thi-ô-bi từ Ê-díp-tô kéo lên với người, số không thể đếm đặng.
4Hoopio aku la oia i na kulanakauhale i paa i ka pa ma Iuda, a hiki mai la i Ierusalema.
4Si-sắc bèn chiếm lấy các thành bền vững thuộc về Giu-đa, rồi đến tận Giê-ru-sa-lem.
5Alaila, hele mai o Semaia, ke kaula, io Rehoboama la, a i na 'lii o Iuda i hoakoakoaia ma Ierusalema mai mua mai o Sisaka, i aku la ia lakou, Penei i olelo mai ai o Iehova ia oukou, Ua haalele oukou ia'u, no ia mea, ua haalele aku au ia oukou iloko o ka lima o Sisaka.
5Tiên tri Sê-ma-gia đến cùng Rô-bô-am và các kẻ làm đầu Giu-đa, đang nhóm tại Giê-ru-sa-lem để trốn khỏi Si-sắc, mà nói rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Các ngươi đã bỏ ta, nên ta cũng đã bỏ các ngươi vào tay Si-sắc.
6Hoohaahaa iho la na kaukaualii o ka Iseraela a me ka Moi ia lakou iho, i iho la, Ua pololei o Iehova.
6Bấy giờ, các kẻ làm đầu của Y-sơ-ra-ên và vua đều hạ mình xuống, mà nói rằng: Đức Giê-hô-va là công bình.
7A ike o Iehova, ua hoohaahaa lakou ia lakou iho, hiki mai la ka olelo a Iehova ia Semaia, i mai la, Ua hoohaahaa lakou ia lakou iho; aole au e luku loa ia lakou, e haawi no au ia lakou i wahi maha iki, aole au e ninini i ko'u huhu maluna o Ierusalema ma ka lima o Sisaka.
7Khi Đức Giê-hô-va thấy chúng hạ mình xuống, thì có lời Đức Giê-hô-va phán cùng Sê-ma-gia rằng: Chúng nó đã hạ mình xuống, ta sẽ không hủy diệt chúng nó; song sẽ giải cứu chúng một chút, và cơn giận ta sẽ chẳng cậy tay Si-sắc mà đổ ra trên Giê-ru-sa-lem;
8Aka, e lilo lakou i poe kauwa nana, i ike lakou i ka hookauwa ana na'u, a me ka hookauwa ana na na aupuni o na aina.
8song chúng nó sẽ bị phục dịch hắn, hầu cho biết phục sự ta và phục dịch nước khác là có phân biệt thể nào.
9Alaila pii mai la Sisaka ke alii o Aigupita i Ierusalema, a hao iho la i ka waiwai o ka hale o Iehova, a me ka waiwai o ka hale o ke alii, hao iho la oia i na mea a pau; a lawe no hoi i na palekaua gula a Solomona i hana'i.
9Si-sắc, vua Ê-díp-tô, kéo lên hãm đánh Giê-ru-sa-lem, đoạt lấy các bửu vật của đền Đức Giê-hô-va và cung vua: người đoạt lấy hết thảy; cũng đoạt lấy những khiên bằng vàng mà Sa-lô-môn đã làm.
10A hana ke alii o Rehoboama i mea e pani ai ko laila hakahaka, i na palekaua keleawe, a haawi ia mau mea iloko o ka lima o na luna o ka poe kiai, ka poe i malama i na puka o ka hale o ke alii.
10Vua Rô-bô-am bèn làm những khiên bằng đồng thế cho, và giao nơi tay các quan chánh thị vệ canh giữ cửa của cung điện vua.
11A i na wa a pau a ke alii i komo ai iloko o ka hale o Iehova, komo no ka poe kiai, a lawe mai ia mau mea, a hoihoi aku no hoi ia mau mea iloko o ke keena o ka poe kiai.
11Hễ khi nào vua vào trong đền của Đức Giê-hô-va, thì các quan thị vệ cầm khiên đến, đoạn đem nó lại vào phòng của quan thị vệ.
12A i kona hoohaahaa ana ia ia iho, huli ae la ka huhu o Iehova mai ona aku la, aole i pepehi ia ia a make: a ma ka aina o Iuda, ua maikai no na mea malaila.
12Khi vua hạ mình xuống, cơn giận của Đức Giê-hô-va lánh khỏi người, không diệt hết thảy; và lại trong Giu-đa còn có sự lành.
13A hookupaaia ke alii ma Ierusalema, a noho alii iho la, no ka mea, he kanahakumamakahi na makahiki o Rehoboama i kona wa i hooalii'i, a noho alii ia i na makahiki he umikumamahiku, ma Ierusalema, ke kulanakauhale a Iehova i wae ai maloko o na ohana a pau o ka Iseraela, e kau mai i kona inoa malaila. A o ka inoa o kona makuwahine, o Naama no ka Amona.
13Aáy vậy vua Rô-bô-am làm cho mình ra bền vững trong Giê-ru-sa-lem và trị vì. Vả khi Rô-bô-am lên ngôi, tuổi đã bốn mươi mốt; người cai trị mười bảy năm tại Giê-ru-sa-lem, tức là thành mà Đức Giê-hô-va đã chọn trong các chi phái Y-sơ-ra-ên, đặng đặt danh Ngài tại đó; còn mẹ người tên là Na-a-ma, người đàn bà Am-môn.
14A hana oia i ka hewa, no ka mea, aole ia i hoomakaukau i kona naau e imi ia Iehova.
14Rô-bô-am làm điều ác, vì không rắp lòng tìm cầu Đức Giê-hô-va.
15A o na mea mua a me na mea hope a Rehoboama i hana'i, aole anei i kakauia ia mau mea ma ka palapala a Semaia ke kaula, a me Ido ka mea wanana ma ka palapala kuauhau? A he kaua ia Rehoboama, a me Ieroboama i ko laua mau la a pau loa.
15Các công việc của Rô-bô-am từ đầu đến cuối, đều đã chép trong sách truyện của Sê-ma-gia, đấng tiên tri, trong sách Y-đô, đấng tiên kiến, luận về gia phổ. Rô-bô-am và Giê-rô-bô-am hằng đánh giặc với nhau luôn luôn.
16A hiamoe iho la o Rehoboama me kona mau kupuna; a ua kanuia oia ma ke kulanakauhale o Davida. A noho alii iho la o Abiia kana keiki mahope ona.
16Rô-bô-am an giấc cùng tổ phụ mình, được chôn trong thành Đa-vít; A-bi-gia, con trai người, cai trị thế cho người.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.