II. Oihanaalii 20
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1A MAHOPE iho o keia mau mea, hiki mai la ka Moaba, a me ka Amona, a me lakou pu kekahi poe e ae, aole no ka Amona, e kaua mai ia Iehosapata.
1Sau các việc này, xảy có dân Mô-áp, dân Am-môn, và những người Mao-nít ở cùng họ, kéo đến đặng đánh giặc với Giô-sa-phát
2Hele mai la kekahi poe a hai mai ia Iehosapata, i mai la, E hiki mai ana i ou la he poe nui, mai kela aoao mai o ke kai mai Suria mai; aia hoi lakou ma Hazezona-tamara, oia o Enegedi.
2Bấy giờ, có người đến thuật cho Giô-sa-phát, mà rằng: Có một đám quân rất đông từ bên bờ kia của biển, từ nước Sy-ri, mà đến hạm đánh vua; kìa chúng đang ở tại Hát-sát-son-Tha-ma, cũng gọi là Eân-ghê-đi.
3A makau iho la o Iehosapata, a halalo iho la kona maka e imi ia Iehova, a kukala aku la i la hookeai ma Iuda a pau loa.
3Giô-sa-phát sợ hãi, rắp lòng tìm cầu Đức Giê-hô-va, và rao khắp xứ Giu-đa phải kiêng ăn một ngày.
4A hoakoakoa mai la ka Iuda e imi ia Iehova; noloko mai o na kulanakauhale a pau o Iuda i hele mai ai lakou e imi ia Iehova.
4Giu-đa nhóm lại đặng cầu Đức Giê-hô-va cứu giúp; người ta ở các thành Giu-đa đều đến đặng tìm cầu Đức Giê-hô-va.
5Alaila, ku iluna o Iehosapata iloko o ka ahakanaka o Iuda a me Ierusalema, iloko o ka hale o Iehova imua o ka pahale hou;
5Giô-sa-phát đứng trong hội chúng Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, tại trong đền của Đức Giê-hô-va, trước hành lang mới,
6Olelo aku la, E Iehova ke Akua o ko makou poe kupuna, aole anei oe ke Akua o ka lani? aole anei oe e noho alii ana maluna o na aupuni a pau o na lahuikanaka, a iloko hoi o kou lima ka mana, a me ka ikaika, i hiki ole i kekahi ke ku e ia oe?
6mà cầu nguyện rằng: Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng tôi! Ngài há chẳng phải là Chúa ở trên các từng trời sao? Há chẳng phải Đấng quản trị muôn dân muôn nước sao? ỳ nơi tay Chúa có quyền thế năng lực, chẳng ai chống trả Chúa cho nổi.
7Aole anei oe ko makou Akua, ka mea nana i kipaku i ko keia aina imua o kou poe kanaka o ka Iseraela, a haawi ia mea i ka poe mamo a Aberahama kou mea i aloha ai, i mea mau loa.
7Hỡi Đức Chúa Trời chúng tôi! Ngài há chẳng phải đã đuổi dân ở xứ này khỏi trước mặt dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, mà ban xứ ấy cho dòng dõi Aùp-ra-ham, là bạn hữu Chúa, làm sản nghiệp đời đời sao?
8A noho lakou malaila, a kukulu lakou no kou inoa i luakini, me ka i ana aku,
8Chúng đã ở đó, và đã cất cho danh Chúa một đền thánh mà rằng:
9I ka hiki ana mai o ka mea ino maluna o makou, o ka pahi kaua, o ka hoopaiia mai, o ke ahulau, a o ka wi, a ku makou imua o keia hale, a imua ou, (no ka mea, aia iloko o keia hale kou inoa,) a kahea aku ia oe i ko makou wa pilikia, alaila e hoolohe mai oe, a e hoola.
9Nếu tai họa giáng trên chúng tôi, hoặc gươm giáo, hoặc sự đoán phạt, hoặc dịch hạch, hay là cơn đói kém, thì chúng tôi sẽ đứng trước đền này và trước mặt Chúa (vì danh Chúa ở trong đền này), mà kêu cầu Chúa trong sự gian nan chúng tôi, thì Chúa sẽ dủ nghe và giải cứu cho.
10Ano, eia hoi ka Amona, a me ka Moaba, a me ko ka mauna o Seira, ka poe au i haawi ole ai i ka Iseraela e hele io lakou la, i ko lakou hele ana mai ka aina o Aigupita mai, no ia mea, huli lakou mai o lakou aku, aole i luku ia lakou.
10Trong lúc dân Y-sơ-ra-ên từ xứ Ê-díp-tô lên, Chúa có cấm họ loán đến xứ dân Am-môn, dân Mô-áp, và người ở núi Sê-i-rơ; dân Y-sơ-ra-ên xây khỏi chúng nó, không diệt chúng nó đi;
11Eia hoi ko lakou uku ana mai ia makou, hele mai lakou e kipaku mai ia makou mai ko makou ainahooili aku, ka mea au i haawi mai ai ia makou.
11kìa, chúng nó báo lại chúng tôi dường nào, đến toan đuổi chúng tôi khỏi sản nghiệp Chúa đã ban cho chúng tôi nhận lấy.
12E ko makou Akua e, aole anei oe e hoopai ia lakou? no ka mea, aole o makou mana imua o keia poe nui, ka poe i hele ku e mai ia makou; aole makou i ike i ka mea e pono ai makou ke hana, aka, ia oe ko makou mau maka.
12Hỡi Đức Chúa Trời chúng tôi ôi, chớ thì Ngài sẽ không xét đoán chúng nó sao? Vì nơi chúng tôi chẳng còn sức lực gì đối địch cùng đám quân đông đảo này đang đến hãm đánh chúng tôi, và chúng tôi cũng không biết điều gì mình phải làm; nhưng con mắt chúng tôi ngửa trông Chúa!
13A ku imua o Iehova ka Iuda a pau loa, me ko lakou poe uuku, a me ka lakou poe wahine, a me ka lakou poe kamalii.
13Cả Giu-đa đều đứng tại trước mặt Đức Giê-hô-va với các đứa nhỏ, vợ, và con cái mình.
14Alaila, i ke ku ana o Iahaziela iwaena o ka ahakanaka, kau mai la ka Uhane o Iehova maluna ona, oia ke keiki a Zekaria, ke keiki a Benaia, ke keiki a Matanaia ka Levi, no ka poe mamo a Asapa.
14Bấy giờ, tại giữa hội chúng, Thần Đức Giê-hô-va cảm động Gia-ha-xi-ên, con trai Xa-cha-ri, cháu Bê-na-gia, chắt Giê-hi-ên, chít Ma-tha-nia, là người Lê-vi thuộc về dòng A-sáp,
15Olelo mai la oia, E hoolohe oukou, e ka Iuda a pau, a me ko Ierusalema, a o oe kekahi, e ke alii, e Iehosapata, penei i olelo mai ai o Iehova, Mai makau oukou, aole hopohopo imua o keia poe nui; no ka mea, aole ia oukou ke kaua. i ke Akua no.
15mà phán rằng: Hỡi các người Giu-đa và dân cư thành Giê-ru-sa-lem, cùng vua Giô-sa-phát, hãy nghe! Đức Giê-hô-va phán cho các ngươi như vầy: Chớ sợ, chớ kinh hãi bởi cớ đám quân đông đảo này: vì trận giặc này chẳng phải của các ngươi đâu, bèn là của Đức Chúa Trời.
16I ka la apopo e iho ku e oukou io lakou la, aia hoi lakou e pii mai ana i ka pali o Ziza; a e loaa lakou ia oukou ma ke kapa o ke kahawai imua o ka waonahele o Ieruela.
16Ngày mai, hãy đi xuống đón chúng nó: kìa, chúng nó đi lên dốc Xít, các ngươi sẽ gặp chúng nó nơi đầu trũng, trước mặt đồng vắng Giê-ru-ên.
17Aole oukou e kaua i keia manawa, e hoomakaukau oukou, e ku malie, a e nana i ko Iehova hoola ana mai ia oukou, e ka Iuda, a me ko Ierusalema; mai makau oukou, mai hopohopo; i ka la apopo, e hele ku e aku oukou io lakou la. O Iehova pu kekahi me oukou.
17Trong trận này các ngươi sẽ chẳng cần gì tranh chiến; hãy dàn ra, đứng yên lặng mà xem thấy sự giải cứu của Đức Giê-hô-va ở cùng các ngươi. Hỡi Giu-đa và Giê-ru-sa-lem! chớ sợ, chớ kinh hãi; ngày mai, hãy đi ra đón chúng nó, vì Đức Giê-hô-va ở cùng các ngươi.
18Alaila, kulou iho la o Iehosapata ilalo kona maka i ka honua; a o ka Iuda a pau, a me ko Ierusalema, haule iho la lakou ilalo imua o Iehova, e hoomana aku ia Iehova.
18Giô-sa-phát bèn cúi sấp mặt xuống đất; và cả Giu-đa và dân cư thành Giê-ru-sa-lem đều sấp mặt xuống trước mặt Đức Giê-hô-va, mà thờ lạy Ngài.
19Ku iluna na Levi, no na Kohata, a me na Kora, o hoolea aku ia Iehova ke Akua o ka Iseraela me ka leo kiekie.
19Người Lê-vi về dòng Kê-hát và về dòng Cô-rê đều đứng dậy cất tiếng lớn mà khen ngợi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
20Ala lakou i ke kakahiaka nui, a hele lakou i ka waonahele o Tekoa; a i ko lakou bele ana aku, ku iluna o Iehosapata, olelo aku la, E hoolohe mai ia'u e ka Iuda, a me ko Ierusalema; e manaoio ia Iehova i ko oukou Akua, i hookupaaia oukou; e manaoio i kana poe kaula, i lanakila oukou.
20Buổi sớm mai, chúng đều chổi dậy thật sớm, kéo ra đồng vắng Thê-cô-a; đang lúc chúng đi, Giô-sa-phát đứng tại đó, mà nói rằng: Hỡi người Giu-đa và dân cư thành Giê-ru-sa-lem! hãy nghe ta: Khá tin cậy Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, thì các ngươi sẽ vững chắc; hãy tin các đấng tiên tri Ngài, thì các ngươi sẽ được may mắn.
21A kukakuka pu oia me na kanaka, a hoonoho oia i kekahi poe hoolea mele ia Iehova o hoomaikai aku i ka nani o kona hemolele, i ko lakou hele ana imua o ka poe kaua, i ka i ana aku, E hoolea aku ia Iehova; no ka mea, ua mau loa kona aloha.
21Khi người đã bàn nghị với dân sự, bèn lập những người ca xướng cho Đức Giê-hô-va mặc áo lễ thánh mà đi ra trước cơ binh ngợi khen Chúa rằng: Hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va, vì sự thương xót Ngài hằng có đời đời.
22A i ka wa o ko lakou hoolea ana, a hoomaikai aku, hoonoho iho la o Iehova i poe hoohalua mahope o na mamo a Amona, a me Moaba, a me ko ka mauna o Seira, i ko lakou hele ku e ana ia Iuda; a ua lukuia lakou.
22Đang lúc chúng khởi ca hát và ngợi khen thì Đức Giê-hô-va đặt phục binh xông vào dân Am-môn, dân Mô-áp và những kẻ ở núi Sê-i-rơ đã đến hãm đánh Giu-đa; và các dân ấy đều bị bại.
23O ka poe mamo a Amona a me ka Moaba, ku e lakou i ko ka mauna o Seira, a luku, a pepehi ia lakou a pau loa, a hoopau lakou i ko Seira; alaila, mokuahana iho la lakou, a pepehi lakou i kekahi i kekahi.
23Dân Am-môn và dân Mô-áp dấy lên đánh dân ở núi Sê-i-rơ, đặng diệt chúng nó đi; khi đã diệt dân ở Sê-i-rơ rồi, thì chúng lại trở giết lẫn nhau.
24A hiki ka Iuda i ka halekiai ma ka waonahele, nana aku la i ka lehulehu, aia hoi, na heana o ka poe i haule i ka honua, aole wahi mea pakele.
24Khi dân Giu-đa đến tháp canh nơi đồng vắng, nhìn đến đám quân đông đảo, thì thấy những thây nằm sãi trên đất, chẳng có một ai thoát khỏi được.
25A hiki o Iehosapata a me kona poe kanaka e lawe aku i ka waiwai pio, ua loaa ia lakou ka waiwai nui loa ma ka ili o na heana, a me na mea maikai loa, a ua hao iho la lakou ia mau mea no lakou iho, aole pau i ka haliia; a ekolu la o ko lakou hali ana i ka waiwai pio, no ka mea, ua nui loa ia.
25Giô-sa-phát và dân sự người đến cướp lấy tài vật của chúng, thấy có nhiều của cải, xác chết, và đồ quí báu, bèn cướp lấy cho đến chừng đem đi không đặng; họ cướp lấy tài vật trong ba ngày, vì là rất nhiều.
26A i ka po aha, hoakoakoaia lakou ma ke awawa o Beraka; no ka mea, malaila lakou i hoomaikai aku ai ia Iehova; no ia mea, ua kapaia ka inoa o ia wahi, o ke awawa o I Beraka a hiki i keia la.
26Qua ngày thứ tư, họ nhóm hiệp tại trũng Bê-ra-ca, vì nơi đó họ ngợi khen Đức Giê-hô-va; bởi cớ ấy người ta đặt tên chỗ đó là trũng Bê-ra-ca cho đến, ngày nay.
27Alaila, hoi ka Iuda a pau a me ko Ierusalema, a o Iehosapata ka mea mamua, i ka hoi ana i Ierusalema, me ka olioli; no ka mea, ua hoohauoli o Iehova ia lakou maluna o ko lakou poe enemi.
27Hết thảy người Giu-đa và người Giê-ru-sa-lem cùng Giô-sa-phát đi đầu trước, trở về Giê-ru-sa-lem cách vui vẻ; vì Đức Giê-hô-va đã làm cho chúng vui mừng, vì cớ quân thù nghịch mình bị đánh bại.
28A hoi mai lakou i Ierusalema me na mea kani, a me na mea ukeke, a me na pu, i ka hale o Iehova.
28Chúng gảy đàn cầm, đàn sắt, và thổi sáo mà trở về Giê-ru-sa-lem, đến đền của Đức Giê-hô-va.
29A kau mai ka weliweli i ke Akua maluna o na aupuni o ka honua, i ko lakou lohe ana, ua kaua aku o Iehova i ka poe enemi o ka Iseraela.
29Khi các nước thiên hạ nghe Đức Giê-hô-va đã đánh bại quân thù nghịch của Y-sơ-ra-ên, thì lấy làm kinh hãi Đức Chúa Trời.
30A ua maluhia ke aupuni o Iehosapata, a ua hoomalu mai kona Akua ia ia a puni.
30Vậy, nước của Giô-sa-phát được hòa bình, vì Đức Chúa Trời người ban cho người sự an nghỉ bốn bên.
31A noho alii o Iehosapata maluna o ka Iuda. He kanakolukumamalima makahiki kona i kona hoomaka ana e noho alii, a noho alii ia i na makahiki he iwakaluakumamalima, a o ka inoa o kona makuwahine, o Azuba, ke kaikamahine a Silehi.
31Vậy, Giô-sa-phát làm vua nước Giu-đa; khi lên ngôi thì tuổi được ba mươi lăm, và người cai trị hai mươi lăm năm tại Giê-ru-sa-lem; tên mẹ người là A-xu-ba, con gái của Si-li.
32A hele ia ma ka aoao o kona makuakane o Asa, aole i huli mai ia aoao aku; ua hana oia i na mea pololei i na maka o Iehova.
32Người đi theo con đường của A-sa, cha người, không lìa bỏ, làm điều ngay thẳng trước mặt Đức Giê-hô-va.
33Aka, aole i hoohioloia na wahi kiekie: aole hoomakaukau na kanaka i ko lakou mau naau no ke Akua o ko lakou poe kupuna.
33Song người không trừ bỏ các nơi cao, và dân sự chưa dốc lòng tìm cầu Đức Chúa Trời của tổ phụ mình.
34A o ke koena o na hana a Iehosapata, na mea mua, a me na mea hope, aia hoi, ua kakauia iloko o ka buke a Iehu ko keiki a Henani, ka mea i oleloia'i iloko o ka buke o na'lii o ka Iseraela.
34Các công việc khác của Giô-sa-phát từ đầu đến cuối, đều chép trong truyện Giê-hu, con trai Ha-na-ni, và truyện ấy đã đem vào sách các vua Y-sơ-ra-ên.
35A mahope aku, hui pu o Iehosapata ke alii o Iuda me Ahazia, ko alii o ka Iseraela, ka mea i hana hewa.
35Sau việc đó, Giô-sa-phát, vua Giu-đa, kết giao với A-cha-xia, vua Y-sơ-ra-ên; người này ăn ở rất gian ác.
36Huipu oia me ia e hana i mau moku e holo i Taresa. A hana no laua i mau moku ma Eziona-gebera.
36Hai vua hội hiệp nhau đặng đóng tàu vượt đi Ta-rê-si; họ đóng tàu tại Ê-xi-ôn-Ghê-be.
37Alaila, wanana mai la o Eliezera ke keiki a Dodava no Maresa, ia Iehosapata, i mai la, I kou huipu ana me Ahazia, e wawahi auanei o Iehova i ka mea au i hana'i. A naha iho la na moku, aole i hiki ia lakou ke holo i Taresa.
37Khi ấy, Ê-li-ê-xe, con trai Đô-đa-va ở Ma-rê-sa, nói tiên tri về vua Giô-sa-phát, mà rằng: Bởi vì vua kết giao với A-cha-xia, nên Đức Giê-hô-va đã hủy phá công việc vua; những tàu bèn bị bể nát, không vượt đi Ta-rê-si được.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.