II. Oihanaalii 13
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1I KA makahiki umi kumamawalu o ke alii o Ieroboama, noho alii iho la o Abiia maluna o ka Iuda.
1Năm thứ mười tám đời vua Giê-rô-bô-am, A-bi-gia lên ngôi làm vua Giu-đa.
2Ekolu makahiki kona noho alii ana ma Ierusalema; a o ka inoa o kona makuwahine o Mikaia ke kaikamahine a Uriela no Gibea. A he kaua no iwaena o Abiia a me Ieroboama.
2Người cai trị ba năm tại Giê-ru-sa-lem; tên mẹ người là Mi-ca-gia, con gái của U-ri-ên ở Ghi-bê-a. A-bi-gia và Giê-rô-bô-am đánh giặc với nhau.
3A hoonohonoho iho la o Abiia i ke kaua me ka poe koa, ka poe ikaika i ke kaua, eha haneri tausani kanaka i waeia: a o Ieroboama hoi, hoonohonoho oia i ke kaua me na kanaka i waeia ewalu haneri tausani, he poe koa ikaika.
3A-bi-gia ra trận với một đạo chiến sĩ, bốn mươi vạn người kén chọn; còn Giê-rô-bô-am dàn trận đối với người, có tám mươi vạn người kén chọn, là lính chiến mạnh dạn.
4Alaila, ku iluna o Abiia maluna o ka puu o Zemaraima, aia no ia ma ka mauna o Eperaima, a olelo aku la, E hoolohe mai, e Ieroboama a me ka Iseraela a pau;
4A-bi-gia đứng trên núi Xê-ma-ra-im trong miền núi Eùp-ra-im, mà nói rằng: Hỡi Giê-rô-bô-am và cả Y-sơ-ra-ên, khá nghe!
5Aole anei oukou i ike, ua haawi mai la o Iehova ke Akua o ka Iseraela i ke aupuni maluna o ka Iseraela, ia Davida, i mea mau loa ia ia, a me kana poe mamo, me ka berita paakai?
5Bởi sự giao ước bằng muối, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã ban nước Y-sơ-ra-ên cho Đa-vít và cho các con trai người đến đời đời, các ngươi há chẳng biết sao?
6Aka, ua ku iluna o Ieroboama ke keiki a Nebata, ke kauwa a Solomona ke keiki a Davida, a kipi iho la i kona haku.
6Dẫu vậy, Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, tôi tớ của Sa-lô-môn, là con trai của Đa-vít, bèn chổi dậy phản nghịch cùng Chúa mình;
7A ua hoakoakoaia io na la na kanaka lapuwale, ka poe hewa, a ua hooikaika ku e mai ia Rehoboama, i ke keiki a Solomona. A he keiki o Rehoboama ia wa, a palupalu kona naau, aole i hiki ia ia ke ku e ia lakou.
7những kẻ du đãng, đồ phàm hèn, đều hiệp lại theo người chúng nó tự làm mình ra mạnh, nghịch với Rô-bô-am, con trai của Sa-lô-môn; còn Rô-bô-am thì trẻ tuổi, nhát gan, không chống cự nổi chúng nó.
8Ano, ke manao nei oukou e hooikaika ku e mai i ke aupuni o Iehova aia ma ka lima o na keiki a Davida; o oukou ka poe koa nui loa, a me oukou pu na bipi keiki gula a Ieroboama i hana'i, i mau akua no oukou.
8Vậy bây giờ, các ngươi tưởng rằng các ngươi sẽ chống cự nổi nước của Đức Giê-hô-va đã ban cho các con trai của Đa-vít, các ngươi một đoàn đông lớn, có đem theo bò con vàng mà Giê-rô-bô-am đã đúc làm thần của các ngươi.
9Aole anei oukou i kipaku i na kahuna a Iehova i ka poe mamo a Aarona, a me na Levi, a hoonoho iho la no oukou iho i na kahuna e like me na lahuikanaka o na aina e? a o kela mea keia mea e hiki mai me ka bipi keiki, a me na hipakane ehiku ma kona lima i mea haawi aku, ua lilo ia i kahuna no na akua lapuwale.
9Các ngươi há chẳng có đuổi những thầy tế lễ của Đức Giê-hô-va, là con cháu A-rôn, và người Lê-vi sao? Các ngươi có theo phong tục của các dân ngoại mà lập lấy những thầy tế lễ cho mình; phàm ai đến đem một con bò đực tơ và bảy con chiên đực đặng dâng làm lễ, thì được làm thầy tế lễ của những thần hư không.
10Aka, o makou nei, o Iehova, oia ko makou Akua, aole makou i haalele ia ia; a o na kahuna, ka poe kauwa na Iehova, o ka poe mamo lakou a Aarona, a o na Levi, e hana ana lakou i ka lakou oihana iho.
10Nhưng về phần chúng ta, Giê-hô-va vẫn là Đức Chúa Trời của chúng ta, chúng ta chẳng có lìa bỏ Ngài; những thầy tế lễ, là con cháu của A-rôn, đều phục sự Đức Giê-hô-va, và các người Lê-vi giữ phần việc của họ;
11Kukuni lakou i kela kakahiaka i keia kakahiaka, i kela ahiahi i keia ahiahi, i na mohaikuni na Iehova, a me na mea poni ala; a hoonoho lakou maluna o ka papaaina maemae i ka berena hoike, a me ka ipukukui gula e aa ana kona mau manamana i kela ahiahi keia ahiahi; no ka mea, e maluna ana makou i ka oihana na Iehova, ko makou Akua, aka, o oukou la, ua haalele ia ia.
11mỗi buổi sớm mai và buổi chiều, chúng xông của lễ thiêu và thuốc thơm cho Đức Giê-hô-va; chúng cũng sắp bánh trần thiết trên bàn sạch sẽ, thắp các đèn của chân đèn vàng để nó cháy mỗi buổi chiều tối; vì chúng ta vâng giữ làm theo mạng lịnh của Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta, còn các ngươi lại bỏ đi.
12Eia hoi me makou ke Akua i luna no makou, a o kona mau kahuna no hoi me na mea kani e hoopuiwa ia oukou. E na mamo a Iseraela, mai kaua aku oukou ia Iehova i ke Akua o ko oukou poe kupuna; no ka mea, aole pono iki oukou pela.
12Nầy, Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta, làm đầu chúng ta, và những thầy tế lễ của Ngài cầm những kèn tiếng vang đặng thổi lên nghịch cùng các ngươi. Hỡi con cái Y-sơ-ra-ên! chớ tranh chiến cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ các ngươi, vì chẳng thắng được đâu!
13A hoonoho o Ieroboama i poe moemoe e hoohalua mahope o lakou, nolaila, imua o ka Iuda kekahi poe, a ma ko lakou kua no hoi ka poe hoohalua.
13Nhưng Giê-rô-bô-am truyền binh phục đi vòng đặng đến phía sau chúng vậy quân Y-sơ-ra-ên ở đằng trước quân Giu-đa còn binh phục ở đằng sau.
14A ike ka Iuda, aia no ke kaua mamua o lakou a mahope kekahi, kahea aku lakou ia Iehova, a hookani ka poe kahuna i na pu.
14Giu-đa xây ngó lại, kìa, giặc đã có phía trước và phía sau, bèn kêu cầu cùng Đức giê-hô-va, và những thầy tế lễ thổi kèn.
15Alaila, hooho ae la ka poe kanaka o Iuda; a i ka hooho ana o ka Iuda poe kanaka, i luku mai la o Iehova ia Ieroboama a me ka Iseraela a pau imua o Abiia, a me ka Iuda.
15Bấy giờ người Giu-đa kêu la lên; xảy khi người Giu-đa kêu la, thì Đức Giê-hô-va đánh Giê-rô-bô-am và cả Y-sơ-ra-ên tại trước mặt A-bi-gia và dân Giu-đa.
16A auhee aku la ka poe mamo a Iseraela imua o ka Iuda, a haawi mai ke Akua i ua poe la iloko o ko lakou lima.
16Dân Y-sơ-ra-ên chạy trốn trước mặt dân Giu-đa, và Đức Chúa Trời phó chúng nó vào tay dân Giu-đa.
17A luku aku la o Abiia a me kona poe kanaka ia lakou me ka luku nui; a o ka poe o ka Iseraela i pepehiia a haule iho la, elima haneri tausani kanaka i waeia.
17A-bi-gia và quân lính người làm cho chúng bị thua trận cả thể, có năm mươi vạn tinh binh của Y-sơ-ra-ên bị thương ngã chết.
18Pela i pio ai ka poe mamo a Iseraela ia manawa, a lanakila iho la ka Iuda, no ka mea, ua hilinai aku lakou ia Iehova i ke Akua o ko lakou poe kupuna.
18Như vậy, trong lúc ấy, dân Y-sơ-ra-ên bị sỉ nhục, còn dân Giu-đa được thắng hơn, vì chúng nhờ cậy nơi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ họ.
19Alualu aku la o Abiia mahope o Ieroboama, a lawe pio oia i na kulanakauhale mai ona aku la, ia Betela, a me na kauhale e pili ana ilaila ia Iesana a me na kauhale e pili ana ilaila; ia Eperaima no hoi a me na kauhale e pili ana ilaila.
19A-bi-gia đuổi theo Giê-rô-bô-am, chiếm lấy những thành, là Bê-tên và các hương thôn nó; Giê-sa-na và các hương thôn nó; Eùp-rôn và các hương thôn nó.
20Aole i loaa hou ia Ieroboama kona ikaika i na la o Abiia; a hahau mai la o Iehova ia ia, a make iho la.
20Trong lúc A-bi-gia còn sống, Giê-rô-bô-am chẳng được cường thạnh lại; Đức Giê-hô-va hành hại người, thì người chết.
21Lanakila iho la o Abiia, a lawe ae la nana i na wahine he umi a me kumamaha, a hanau mai la na keikikane he iwakalua a me kumamalua, a me na kaikamahine he umi a me kumamaono.
21Còn A-bi-gia được cường thạnh, cưới mười bốn người vợ, sanh được hai mươi hai con trai và mười sáu con gái.
22A o ke koena o na hana a Abiia a me kona mau aoao, a me kana olelo, ua kakauia ma na kaao a Ido, ke kaula.
22Các công sự khác của A-bi-gia, những việc làm và lời nói của người, đều chép trong sách truyện của tiên tri Y-đô.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.