II. Oihanaalii 14
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1A HIAMOE o Abiia me kona mau kupuna, a kanu lakou ia ia ma ke kulanakauhale o Davida; a noho alii iho la o Asa, kana keiki mahope ona. I kona mau la, ua maluhia ka aina i na makahiki he umi.
1A-bi-gia an giấc cùng tổ phụ mình, và người ta chôn người trong thành Đa-vít. A-sa, con trai người, cai trị thế cho người. Trong đời người, xứ được hòa bình mười năm.
2Hana iho la o Asa i ka maikai a me ka pololei, imua o Iehova kona Akua.
2A-sa làm điều thiện và ngay thẳng trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời của người;
3Lawe aku la oia i na kuahu o na akua e, a me na wahi kiekie, wawahi iho la oia i na kii, kulai no hoi i na kii o Asetarota.
3vì người cất bỏ các bàn thờ của thần ngoại bang, và những nơi cao, đập bể các trụ thờ, và đánh đổ những tượng A-sê-ra;
4A kauoha ae la oia i ka Iuda e imi ia Iehova i ke Akua o ko lakou kupuna, a e malama i kona kanawai, a me kana kauoha.
4người khuyên Giu-đa phải tìm cầu Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng, cùng làm theo luật pháp và điều răn của Ngài.
5Lawe aku la ia mailoko aku o na kulanakauhale a pau o Iuda, i na wahi kiekie, a me na kii; a maluhia iho la ke aupuni imua ona.
5Người cũng trừ bỏ những nơi cao và trụ thờ mặt trời khỏi các thành của Giu-đa. Nước được bằng an trước mặt người.
6A kukulu iho la ia i na kulanakauhale paa i ka pa ma Iuda; no ka mea, ua maluhia ka aina, aohe ona kaua i kela mau makahiki, no ka mea, hoomalu mai o Iehova ia ia.
6Người xây những thành bền vững trong đất Giu-đa, vì trong mấy năm đó xứ hòa bình, không có chiến trận, bởi Đức Giê-hô-va đã ban cho người được an nghỉ.
7Olelo aku la oia i ka Iuda, Ina kakou, e kukulu kakou i keia mau kulanakauhale, e hana a puni i na pa, a me na halekiai, a me na ipuka, a me na mea e paa ai, oiai ka aina ia kakou; no ka mea, ua imi kakou ia Iehova, i ko kakou Akua, ua imi no kakou, a ua hoomalu mai ia ia kakou a puni: a kukulu ae la lakou me ka pomaikai.
7Người bảo dân Giu-đa rằng: Ta hãy xây cất các thành này, đắp vách tường chung quanh, dựng tháp, làm cửa và then, đang lúc xứ hãy còn thuộc về chúng ta; vì chúng ta có tìm kiếm Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng ta; chúng ta có tìm được Ngài, Ngài đã ban cho chúng ta bình an bốn phía. Chúng bèn xây cất và được thành công.
8Aia ia Asa he poe koa, he poe lawe palekaua a me na ihe, noloko mai o Iuda ekolu haneri tausani; a noloko mai o Beniamina, he poe lawe i na aahuapoo, a he poe lena i na kakaka, elua haneri a me kanawalu tausani; he poe koa ikaika keia poe a pau loa.
8A-sa có một đạo binh ba mươi vạn người Giu-đa, cầm khiên và giáo, và hai mươi tám vạn người Bên-gia-min cầm thuẫn và giương cung; hết thảy đều là người mạnh dạn.
9A hele mai io lakou la o Zera no Aitiopa mai me ka poe koa, hookahi tausani tausani, a me na kaa kaua ekolu haneri, a hiki mai lakou i Maresa.
9Xê-rách, người Ê-thi-ô-bi kéo đạo binh một trăm vạn người, và ba trăm cỗ xe, ra hãm đánh người Giu-đa, và đi đến Ma-rê-sa.
10A hele ku e o Asa ia ia, a hoonohonoho i ke kaua ma ke awawa o Zepata ma Maresa.
10A-sa ra đón người, dàn trận tại trong trũng Xê-pha-ta, gần Ma-rê-sa.
11A kahea aku la o Asa ia Iehova, i kona Akua, i aku la, E Iehova, ua like wale no ia oe ke kokua mamuli o ka poe lehulehu, a mamuli hoi o ka poe ikaika ole: e kokua mai ia makou, e Iehova ko makou Akua; no ka mea, ke hilinai aku nei makou ia oe, a ma kou inoa makou e hele ku e aku ai i keia poe lehulehu. E Iehova, o oe no ko makou Akua; mai noho oe a lanakila ke kanaka maluna ou.
11A-sa cầu khẩn Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, mà rằng: Lạy Đức Giê-hô-va! Trừ ra Chúa chẳng có ai giúp đỡ người yếu thắng được người mạnh; Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi ôi! Xin hãy giúp đỡ chúng tôi, vì chúng tôi nương cậy nơi Chúa; ấy là nhân danh Chúa mà chúng tôi đến đối địch cùng đoàn quân này. Đức Giê-hô-va ôi! Ngài là Đức Chúa Trời chúng tôi; chớ để loài người thắng hơn Chúa!
12Alaila, luku mai la o Iehova i ko Aitiopa imua o Asa, a imua o ka Iuda; a auhee aku la ko Aitiopa.
12Đức Giê-hô-va bèn đánh dân Ê-thi-ô-bi tại trước mặt dân Giu-đa và vua A-sa; quân Ê-thi-ô-bi chạy trốn.
13Alualu aku la o Asa a me na kanaka me ia a hiki i Gerara; haule ko Aitiopa, aole i hiki ia lakou ke ola; no ka mea, ua lukuia lakou imua o Iehova, a imua o kona poe koa, a ua lawe lakou i ka waiwai pio he nui loa.
13A-sa và quân lính theo người, đều đuổi chúng cho đến Ghê-ra; quân Ê-thi-ô-bi ngã chết nhiều, đến đỗi chẳng còn gượng lại được, vì chúng bị thua trước mặt Đức Giê-hô-va và đạo binh của Ngài. Người Giu-đa đoạt được của giặc rất nhiều;
14A luku lakou i na kulanakauhale a pau a puni o Gerara, no ka mea, maluna o lakou ka makau ia Iehova; a hoopio lakou i na kulanakauhale a pau; a he nui loa ka waiwai pio iloko olaila.
14cũng hãm đánh các thành chung quanh Ghê-ra, vì sự kinh khiếp của Đức Giê-hô-va giáng trên các thành đó; rồi quân lính A-sa cướp lấy hết thảy của cải trong các thành ấy, vì trong nó có của cải rất nhiều.
15A luku lakou i na halelewa o na holoholona, a lawe aku la lakou i na hipa a me na kamelo he nui loa, a hoi lakou i Ierusalema.
15Lại cũng đánh phá các chuồng súc vật, bắt đem đi rất nhiều chiên và lạc đà; đoạn trở về Giê-ru-sa-lem.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.