I. Samuela 30
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1A I ka hiki ana'ku o Davida me kona poe kanaka ma Zikelaga i ka po akolu, ua hele mai na Amaleka ma ka aoao hema a ma Zikelaga, a ua luku aku ia Zikelaga, a puhi aku la ia i ke ahi;
1Khỏi ba ngày, khi Đa-vít với những kẻ theo mình đến Xiếc-lác, thì dân A-ma-léc đã loán đến miền nam cùng Xiếc-lác, xông vào Xiếc-lác và đã phóng hỏa nó.
2A ua lawe pio aku i na wahine o ia wahi; aole lakou i pepehi i kekahi o ka mea nui, aole hoi i ka mea uuku: aka, alakai aku la ia lakou, a hele aku la ma ko lakou ala.
2Chúng bắt lấy các người nữ và hết thảy kẻ lớn nhỏ ở tại đó. Chúng nó chẳng giết một ai, song khi đi, có dẫn tù hết thảy.
3A hiki aku la o Davida me kona poe kanaka ma ke kulanakauhale, aia hoi, ua puhiia i ke ahi; a ua lawe pio ia aku ka lakou mau wahine, a me ka lakou mau keikikane, a me ka lakou mau kaikamahine.
3Khi Đa-vít và những kẻ theo người đến thành, thì thành đã bị lửa cháy; vợ, con trai, con gái của chúng đều đã bị dẫn tù.
4Alaila hookiekie ae la o Davida me na kanaka me ia i ko lakou leo iluna, a auwe iho la, a pau ko lakou aho i ka auwe ana.
4Bấy giờ, Đa-vít và những kẻ theo người đều cất tiếng lên khóc, khóc đến đổi không còn sức khóc nữa.
5A ua lawe pio ia aku la na wahine elua a Davida, o Ahinoama no Iezereela, a me Abigaila ka wahine a Nabala no Karemela.
5Hai người vợ của Đa-vít cũng bị dẫn tù, tức A-hi-nô-am ở Gít-rê-ên, và A-bi-ga-in trước làm vợ của Na-banh tại Cạt-mên.
6Pilikia loa iho la o Davida: a ua olelo na kanaka e pehi ia ia i ka pohaku, no ka mea, ua kaumaha ka naau o na kanaka a pau, o kela kanaka keia kanaka no kana mau keikikane, a me kana mau kaikamahine: aka, hooikaika iho la o Davida ia ia iho ma Iehova kona Akua.
6Đa-vít bị sự hoạn nạn lớn, vì dân sự toan ném đá người, bởi hết thảy đều có tâm hồn đầy cay đắng, vì cớ mất con trai và con gái mình. Nhưng Đa-vít được sức mạnh nơi Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình.
7Olelo aku la o Davida ia Abiatara ke kahuna, ke keiki a Ahimeleka, Ke noi aku nei au ia oe e lawe mai i ka epoda ia'u. A lawe mai la o Abiatara i ka epoda ia Davida.
7Người nói cùng thầy tế lễ A-bia-tha rằng: Ta xin thầy hãy đem ê-phót cho ta. A-bia-tha đem ê-phót cho Đa-vít.
8Ninau aku la o Davida ia Iehova, i aku la, E hahai anei au mahope o keia poe? E loaa anei lakou ia'u? A i mai la oia ia ia, E hahai aku oe, no ka mea, e loaa no ia oe, a e lawe hou mai i na mea a pau.
8Đa-vít cầu vấn Đức Giê-hô-va rằng: Tôi phải đuổi theo đạo binh nầy chăng? Tôi sẽ theo kịp chăng? Đức Giê-hô-va phán rằng: Hãy khởi đuổi theo nó; quả thật ngươi sẽ theo kịp, và giải cứu hết thảy những kẻ bị bắt.
9A hele aku la o Davida, oia me na kanaka pu me ia eono haneri, a hiki lakou ma ke kahawai o Besora, kahi i kali ai ka poe i waihoia mahope.
9Vậy, Đa-vít ra đi cùng sáu trăm người theo mình. Đến khe Bê-sô, những người mệt mỏi bèn dừng lại.
10Aka, hahai aku la o Davida, oia me na haneri kanaka eha: no ka mea, hoonohoia aku la mahope elua haneri kanaka, aole e hiki aku lakou ma kela kapa o ke kahawai o Besora, no ko lakou nawaliwali.
10Đa-vít cứ đuổi theo với bốn trăm người, vì hai trăm người kia đã dừng lại, lấy làm mệt nhọc quá, không thể qua khe Bê-sô được.
11A loaa ia lakou he kanaka no Aigupita ma ke kula, a lawe mai lakou ia ia io Davida la, a haawi aku la ia ia i ka berena, a ai iho la ia, a hooinu lakou ia ia i ka wai.
11Bọn của Đa-vít gặp một người Ê-díp-tô trong đồng ruộng, bèn dẫn đến cùng Đa-vít. Người ta cho người nầy bánh ăn nước uống;
12A haawi aku lakou ia ia i kekahi apana o ke pai fiku, a i elua huiwaina maloo: a pau kana ai ana, hiki hou mai la ka ikaika ia ia; no ka mea, aole ia i ai i ka berena, aole hoi i inu i ka wai i na la a me na po ekolu.
12cũng ban cho người ăn một cái bánh trái vả khô và hai bánh nho khô. Người ăn, bèn được hồi sức lại; vì trong ba ngày ba đêm người không ăn, không uống chi hết.
13Ninau aku la o Davida ia ia, Nowai la oe? a nohea hoi oe? I mai la ia, He kanaka ui au no Aigupita, he kauwa na kekahi Amaleka; a ua haalele kuu haku ia'u, no ka mea, i ka poakolu ae nei i loohia ai au e ka mai.
13Đa-vít hỏi người rằng: Ngươi ở với ai? và ở đâu đến? Người thưa rằng: Tôi là một người Ê-díp-tô tuổi trẻ, làm tôi tớ của một người A-ma-léc; chủ tôi bỏ tôi đã ba ngày rồi, vì tôi đau.
14Hele kaua aku la makou ma ka aoao hema o ko Kereti, a ma kekahi aoao no ka Iuda, a ma ka aoao hema o Kaleba, a puhi aku la makou ia Zikelaga i ke ahi.
14Chúng tôi có loán đến đất miền nam của dân Kê-rê-thít, địa phận Giu-đa, và đến phía nam Ca-lép, và chúng tôi đã đốt Xiếc-lác.
15Ninau aku la o Davida ia ia, E hiki anei ia oe ke alakai aku ia'u i ua poe la? I mai la ia, E hoohiki mai oe ia'u ma ke Akua, i ole oe e pepehi mai ia'u, i ole hoi e haawi ia'u iloko o na lima o kuu haku, a e alakai aku au ia oe i ua poe la.
15Đa-vít hỏi: Ngươi khứng dẫn ta đến cơ binh nầy chăng? Người đó thưa rằng: Hãy chỉ danh Đức Chúa Trời mà thề cùng tôi rằng ông sẽ chẳng giết tôi, hoặc nộp tôi cho chủ tôi, thì tôi sẽ dẫn ông đến cơ binh đó.
16A alakai aku la ia ia lakou, aia hoi, ua hoomoana lakou ma ka aina a pau, e ahaaina ana, a e inu ana, a e haa ana, no ka nui o ka waiwai pio a lakou i lawe ae noloko mai o ka aina o ko Pilisetia, a me ka aina o ka Iuda.
16Người Ê-díp-tô dẫn họ đến; họ thấy dân A-ma-léc tràn ra khắp xứ, ăn uống và chơi giỡn, vì cớ của cướp rất nhiều mà chúng nó đã đoạt lấy ở trong xứ Phi-li-tin và trong xứ Giu-đa.
17A luku aku la o Davida ia lakou mai ka wanaao a hiki i ke ahiahi a ia la aku; aole i pakele kekahi kanaka o lakou, eha haneri kanaka ui hooholo kamelo wale no i pakele.
17Đa-vít đánh chúng nó từ tảng sáng ngày đó cho đến chiều ngày sau; trừ ra bốn trăm người trai trẻ cỡi lạc đà chạy trốn, thì chẳng một ai thoát khỏi.
18A loaa hou ia Davida na mea a pau a ka Ameleka i lawe aku ai, a hoopakele o Davida i kana mau wahine.
18Đa-vít thâu lại mọi vật dân A-ma-léc đã cướp lấy, và cũng giải cứu hai vợ mình nữa.
19Aole i nalowale kekahi mea ia lakou, aole ka mea uuku, aole ka mea nui, aole na keikikane, aole na kaikamahine, aole na waiwai pio, aole kekahi mea a lakou i lawe aku ai no lakou, loaa iho la ia Davida na mea a pau.
19Chẳng thiếu một ai, hoặc nhỏ hay lớn, hoặc gái hay trai, hoặc là một phần hóa tài nào mà dân A-ma-léc đã cướp lấy: Đa-vít đem về hết thảy.
20A lawe aku la o Davida i ka poe hipa a pau, a me na bipi a lakou i a ai imua o kela poe holoholona, a i ae la lakou, O ka Davida waiwai pio keia.
20Người cũng bắt lại bò và chiên. Quân lính của Đa-vít đi đầu bầy nầy, mà nói rằng: Nầy là của Đa-vít bắt được.
21A hoi mai o Davida i na haneri kanaka elua, i ka poe i hiki ole ke hahai mamuli o Davida no ko lakou nawaliwali, i na mea a lakou i hoonoho ai ma ke kahawai o Besora: a hele mai lakou e halawai me Davida, a e halawai hoi me na kanaka me ia: a hiki mai o Davida a kokoke i na kanaka, aloha mai la oia ia lakou.
21Đa-vít trở về cùng hai trăm người trước kia bị mệt nhọc quá, theo người không nổi, mà người đã để lại gần bên khe Bê-sô. Hai trăm người ấy đi tới đón Đa-vít và đạo binh theo người. Đa-vít lại gần, hỏi chúng mạnh giỏi chăng.
22Alaila olelo mai na kanaka hewa a pau, a me ka poe Beliala, o na kanaka i hele pu me Davida, i mai la, No ko lakou hele pu ole me kakou, aole kakou e haawi aku ia lakou i kekahi o ka waiwai pio a kakou i loaa hou mai, aka, e lawe kela kanaka keia kanaka i kana wahine, a me kana mau keiki, a alakai aku, a hele.
22Nhưng hết thảy kẻ hung ác, kẻ côn đồ ở trong bọn Đa-vít cất tiếng nói rằng: Bởi vì chúng nó không đi cùng chúng ta, chúng ta sẽ không nhường cho chúng nó một phần của cải nào mà chúng ta đã lấy được, chỉ trả lại vợ và con của mỗi người mà thôi. Chúng nó hãy dẫn họ mà đi đi!
23Olelo aku la o Davida, E na hoahanau o'u, mai hana oukou pela i na mea a Iehova i haawi mai ai ia kakou, nana kakou i malama mai, a hoolilo mai hoi i ka poe i hele ku e mai ia kakou iloko o ko kakou lima.
23Nhưng Đa-vít đáp rằng; Hỡi anh em, chớ làm như vậy về vật mà Đức Giê-hô-va đã ban cho chúng ta; Ngài đã gìn giữ ta, phó cho ta đạo binh đã đến đánh chúng ta.
24Owai ka mea e hoolohe mai ia oukou i keia mea? no ka mea, e like me ka ka mea i hele i ke kaua, pela no ka ka mea i noho me na ukana, e like pu ka lakou.
24Vậy, ai theo lời định ước của các ngươi được? Phần của kẻ ra trận và phần của kẻ giữ đồ vật phải bằng nhau; chúng sẽ chia cho nhau vậy.
25A mai ia la mai, hana iho la oia ia mea i kanawai, a i olelo kupaa no ka Iseraela a hiki i keia la.
25Kể từ ngày ấy, Đa-vít lập điều đó làm luật và lệ trong Y-sơ-ra-ên, hãy còn đến ngày nay.
26A hiki aku la o Davida ma Zikelaga, hoouna aku la ia i kekahi o ka waiwai pio na na lunakahiko o ka Iuda, na kona poe makamaka, i aku la, Eia mai ka makana na oukou, no ka waiwai pio a ka poe enemi o Iehova;
26Vậy, Đa-vít trở về Xiếc-lác và gởi một phần của cướp cho các trưởng lão Giu-đa, tức là bạn hữu người, mà nói rằng: Nầy là một lễ vật cho các ông do của cướp lấy nơi kẻ thù nghịch Đức Giê-hô-va.
27Na ka poe ma Betela, a na ka poe ma Ramota kukulu hema, a na ka poe ma Iatira,
27Người gởi cho những người ở Bê-tên, Ra-mốt, miền Nam, Giạt-thia
28A na ka poe ma Aroera, a na ka poe ma Sipemota, a na ka poe ma Esetemoa.
28cho những người ở A-rô-e, Síp-mốt, Ê-thê-mô-a,
29A na ka noe ma Rakala, a na ka poe ma na kulanakauhale o ka Ierahemeeli, a na ka poe ma na kulanakauhale o na Keni,
29cho những người ở Ra-canh và ở các thành của dân Giê-rách-mê-lít, cho người ở các thành Kê-nít,
30A na ka poe ma Horema, a na ka poe ma Koresana, a na ka poe ma Ataka,
30cho người ở Họt-ma, Bọt-a-san, A-tát,
31A na ka poe ma Heberona, a ma na wahi a pau a Davida a me kona poe kanaka i holoholo ai.
31Hếp-rôn, và cho khắp mọi miền nào Đa-vít đã đi ngang qua với đạo binh mình.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.