I. Samuela 26
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1HELE mai ko Zipa ia Saula ma Gibea, i mai la, Aole anei o Davida i huna ia ia iho ma ka puu o Hakila imua o Iesimona?
1Dân Xíp lại đến tìm Sau-lơ tại Ghi-bê-a, mà nói rằng: Đa-vít há chẳng ẩn tại trên gò Ha-ki-la, đối ngang đồng vắng sao?
2A ku ae la o Saula, a hele aku la ma ka waonahele o Zipa, a me ia no akolu tausani kanaka o ka Iseraela i waeia e imi ia Davida ma ka waonahele o Zipa.
2Sau-lơ bèn chổi dậy kéo ba ngàn tinh binh của Y-sơ-ra-ên, đi xuống đồng vắng Xíp đặng tìm Đa-vít.
3A hoomoana iho la o Saula ma i ka puu o Hakila imua o Iesimona ma ke ala. A noho iho la o Davida ma ka waonahele, a ike iho la ia, ua hele mai o Saula mahope ona ma ka waonahele.
3Sau-lơ đóng trại trên gò Ha-ki-la, đối ngang đồng vắng, tại nơi đầu đường. Đa-vít ở trong đồng vắng. Khi thấy Sau-lơ đến đuổi theo mình,
4A hoouna aku la o Davida i na kiu, a ike iho la, he oiaio, ua hele mai o Saula.
4bèn sai kẻ do thám đi, và biết chắc rằng Sau-lơ đã đến.
5Ku ae la o Davida, a hele aku la i kahi a Saula i hoomoana ai: a ike aku la o Davida i kahi a Saula i moe ai, a me Abenera, ke keiki a Nera, ka luna o kona kaua: a e moe ana o Saula mawaena o na halekaa, a ua hoonohoia na kanaka a puni ona.
5Bấy giờ, Đa-vít chổi dậy, đi đến tận nơi Sau-lơ hạ trại; người cũng thấy nơi ngủ của Sau-lơ và của Aùp-ne, con trai Nê-rơ, là quan tổng binh của người. Sau-lơ ngủ tại đồn, có đạo binh đóng trại xung quanh mình.
6Olelo aku la o Davida, i aku la ia Ahimeleka ka Heta, a ia Abisai ke keiki a Zeruia, ka hoahanau o Ioaba, ninau ae la, Owai la ka mea e hele pu me au io Saula la ma kahi i hoomoana'i? I mai la o Abisai, Owau ke hele pu me oe.
6Đa-vít cất tiếng nói cùng A-hi-mê-léc, người Hê-tít, và A-bi-sai, con trai của Xê-ru-gia, em của Giô-áp, rằng: Ai muốn đi cùng ta xuống dinh Sau-lơ? A-bi-sai đáp: Tôi sẽ đi xuống với ông.
7A hele aku la o Davida, a me Abisai i na kanaka i ka po, aia hoi, e hiamoe ana o Saula mawaena o na halekaa, a ua houia kana ihe i ka honua ma kona poo: a e moe ana o Abenera a me na kanaka a puni ona.
7Vậy, Đa-vít và A-bi-sai lúc ban đêm, vào giữa quân lính, thấy Sau-lơ đang ngủ, nằm trong đồn, cây giáo cặm dưới đất tại nơi đầu giường. Aùp-ne và quân lính nằm ở xung quanh người.
8I aku la o Abisai ia Davida, na hoolilo mai ke Akua i kou enemi iloko o kou lima i keia la: ano hoi, ke noi aku nei au ia oe, e ae mai oe ia'u, e hou iho au ia ia me ka ihe ma ka honua, hookahi hou ana, aole au e hou hou aku ia ia.
8A-bi-sai nói cùng Đa-vít rằng: Ngày nay Đức Chúa Trời đã phó kẻ thù nghịch ông vào tay ông. Xin cho phép tôi lấy giáo đâm người chỉ một cái mà cặm người xuống đất; chẳng cần phải đâm lại.
9I mai la o Davida ia Abisai, Mai pepehi ia ia: no ka mea, owai la ka mea e kau aku i kona lima maluna o ka mea a Iehova i poni ai, a hewa ole?
9Nhưng Đa-vít bảo A-bi-sai rằng: Đừng giết người; ai có thế tra tay trên kẻ chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va mà không bị phạt?
10I mai la hoi o Davida, Ma ke ola o Iehova, e pepehi mai no o Iehova ia ia; e hiki mai auanei kona la e make ai; a e hele paha ia i ke kaua, a e make oia malaila.
10Người tiếp rằng: Ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống mà thề, Đức Giê-hô-va chắc sẽ đánh người, hoặc khi người đến k” định mà chết, hoặc khi người ra trận mà bị diệt vong.
11Na Iehova i hoole mai ia'u, aole au e kau aku i ko'u lima maluna o ka mea a Iehova i poni ai: aka, ke noi aku nei au ia oe, e lawe aku oe i ka ihe ma kona poo, a me ke kiaha wai, a e hele aku kaua.
11Nguyện Đức Giê-hô-va giữ, chớ cho tôi tra tay vào kẻ chịu xức dầu của Ngài! Ta xin ngươi chỉ hãy lấy cây giáo nơi đầu giường người cùng cái bình nước, rồi chúng ta hãy đi.
12A lawe ae la o Davida i ka ihe a me ke kiaha wai ma ke poo o Saula, a hele aku laua; aohe kanaka i nana mai, aole i ike, aole i ala mai: ua pauhia lakou i ka hiamoe; no ka mea, ua hiki mai ka hiamoe nui mai Iehova mai maluna o lakou.
12Như vậy, Đa-vít lấy cây giáo và bình nước nơi đầu giường của Sau-lơ, rồi hai người đi. Không ai thấy hay là biết, và cũng chẳng ai tỉnh thức; hết thảy đều ngủ, vì Đức Giê-hô-va đã khiến sự ngủ mê giáng trên chúng nó.
13Alaila hele aku la o Davida ma kela aoao, a ku maluna o ka puu mao lilo, a ua loihi ka wahi iwaena o lakou.
13Đoạn, Đa-vít sang qua bên kia, dừng lại tại trên chót núi, xa trại quân. có một khoảng xa cách nhau.
14Kahea aku la o Davida i na kanaka, a ia Abenera, i ke keiki a Nera, i aku la, Aole anei oe eo mai, e Abenera? Alaila eo mai la o Abenera, i mai la, Owai oe e kahea mai nei i ke alii?
14Người gọi quân lính với Aùp-ne, con trai Nê-rơ mà nói rằng: Aùp-ne, người chẳng đáp lời sao? Aùp-ne đáp rằng: Ngươi là ai mà kêu la cùng vua?
15I aku la o Davida ia Abenera, Aole anei oe he kanaka koa? owai la kou mea like iloko o ka Iseraela? No ke aha la oe i malama ole ai i kou haku i ke alii? no ka mea, ua hele aku kekahi o na kanaka e pepehi i ke alii i kou haku?
15Đa-vít đáp cùng Aùp-ne rằng: Nào, ngươi há chẳng phải là một dõng sĩ sao? Trong Y-sơ-ra-ên ai bằng ngươi? Vậy, sao ngươi không canh giữ vua, là chúa của ngươi? Có kẻ trong dân sự đã đến muốn giết vua chúa ngươi.
16Aole e pono keia mea au i hana'i. Ma ke ola o Iehova, e pono oukou ke make, i ko oukou malama ole i ko oukou haku, i ka mea a Iehova i poni ai. Ano hoi e nana oe i kahi i waiho ai ka ihe a ke alii a me ke kiaha wai ma kona poo.
16Điều ngươi đã làm đó chẳng tốt đâu. Ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống mà thề, ngươi đáng chết, vì không canh giữ chúa ngươi, là đấng chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va. Bây giờ, hãy xem thử, cây giáo của vua và bình nước nơi đầu giường vua ở đâu?
17A ike iho la o Saula, o ka leo ia o Davida, i aku la, O kou leo anei keia, e kuu keiki, e Davida? I mai la o Davida, O ko'u leo no ia, e kuu haku, e ke alii.
17Sau-lơ nhận biết tiếng của Đa-vít, bèn nói rằng: Hỡi Đa-vít, con ta, có phải tiếng con chăng? Đa-vít thưa rằng: Hỡi vua chúa tôi, ấy là tiếng tôi.
18I aku la ia, No ke aha la i hahai mai nei kuu haku i kana kauwa: heaha ia ka'u i hana'i? a heaha hoi ka hewa iloko o kuu lima?
18Người tiếp: Cớ sao chúa đuổi theo tôi tớ chúa như vậy? Tôi có làm điều gì, và tay tôi đã phạm tội ác chi?
19Ano hoi ke noi aku nei au ia oe, e hoolohe mai kuu haku ke alii i ka olelo a kana kauwa. Ina paha i hoala mai o Iehova ia oe e ku e mai ia'u, e oluolu ia i ka mohai: aka, ina o na keiki a kanaka, e poino lakou imua o Iehova; no ka mea, ua hookuke mai lakou ia'u i keia la mai ka noho ana ma ka ainahooili no Iehova, i ka i ana mai, E hele e malama i na akua e.
19Bây giờ, xin vua hãy lắng nghe lời của tôi tớ vua. Nếu Đức Giê-hô-va xui giục vua hại tôi, nguyện Ngài nhậm mùi thơm của lễ, nhưng nếu là loài người, nguyện chúng bị rủa sả trước mặt Đức Giê-hô-va; vì ngày nay chúng đuổi tôi đi khỏi chỗ dành cho tôi trong sản nghiệp của Đức Giê-hô-va, và chúng nói rằng: Hãy đi, thờ tà thần.
20Ano hoi, mai hookaheia kuu koko ma ka honua imua i ke alo o Iehova: no ka mea, ua hele mai nei ke alii o ka Iseraela e imi i ukulele, e like me kekahi e imi ai i ka manu ma na mauna.
20Oâi! nguyện huyết tôi chớ chảy ra trên đất cách xa mặt Đức Giê-hô-va; vì vua Y-sơ-ra-ên đã kéo ra đặng tìm một con bọ chét, như người ta đuổi theo chim đa đa trong núi vậy.
21Alaila i aku la o Saula, Ua hewa au: o hoi oe, e kuu keiki, e Davida: aole au e hana ino hou aku ia oe; no ka mea, ua malama oe i kuu ola i keia la: aia hoi, ua hana naaupo wau, a na nui loa kuu lalau ana.
21Bấy giờ, Sau-lơ nói: Ta có phạm tội; hỡi Đa-vít, con ta, hãy trở lại! Ta sẽ chẳng làm hại cho con nữa, vì ngày nay, con đã kính nể mạng sống ta. Thật, ta đã làm điên cuồng, phạm một lỗi rất trọng.
22Olelo mai la o Davida, i mai la, Eia ka ihe a ke alii! a e kii mai kekahi o ka poe ui e lawe aku.
22Đa-vít nói: Nầy là cây giáo của vua; hãy cho một gã trai trẻ của vua đi qua đây mà lấy đi.
23Na Iehova e uku mai i kela kanaka i keia kanaka i kona pono, a me kona oiaio: no ka mea, ua hoolilo mai o Iehova ia oe iloko o kuu lima i keia la; aka, aole au i kau aku i kuu lima maluna o ka mea a Iehova i poni ai.
23Đức Giê-hô-va sẽ báo trả cho mọi người tùy theo sự công bình và trung tín của người; vì ngày nay Ngài đã phó vua vào tay tôi, mà tôi không khứng tra tay vào đấng chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va.
24Aia hoi, no ka malama pono ia o kou ola i kuu maka i keia la, pela hoi e malama pono ia'i ko'u ola i ka maka o Iehova, a e hoopakele mai ia ia'u i na popilikia a pau.
24Ngày nay, tôi lấy mạng sống vua làm quí trọng thế nào, thì Đức Giê-hô-va cũng sẽ lấy mạng sống tôi làm quí trọng thể ấy, và giải cứu tôi khỏi các hoạn nạn.
25Alaila i aku la o Saula ia Davida, Pomaikai oe, e kuu keiki, e Davida: e hana nui auanei oe, a e lanakila hoi oe. A hele aku la o Davida i kona wahi e hele ai, a hoi aku la o Saula i kona wahi.
25Sau-lơ nói cùng Đa-vít rằng: Hỡi Đa-vít, con ta, nguyện con được phước! Quả thật, con sẽ làm công việc lớn lao và được thắng hơn. Đoạn, Đa-vít cứ đi lối mình, còn Sau-lơ trở về nơi người.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.