1 Samuel 26
Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Os zifeus foram até Saul, em Gibeá, e disseram: “Davi não está escondido na colina de Haquila, em frente ao deserto?”
1Dân Xíp lại đến tìm Sau-lơ tại Ghi-bê-a, mà nói rằng: Đa-vít há chẳng ẩn tại trên gò Ha-ki-la, đối ngang đồng vắng sao?
2Então Saul se levantou e desceu ao deserto de Zife, levando consigo três mil homens escolhidos de Israel, para procurar Davi no deserto de Zife.
2Sau-lơ bèn chổi dậy kéo ba ngàn tinh binh của Y-sơ-ra-ên, đi xuống đồng vắng Xíp đặng tìm Đa-vít.
3Saul acampou na colina de Haquila, que fica em frente ao deserto, junto à estrada. Davi, porém, permaneceu no deserto e viu que Saul tinha vindo atrás dele.
3Sau-lơ đóng trại trên gò Ha-ki-la, đối ngang đồng vắng, tại nơi đầu đường. Đa-vít ở trong đồng vắng. Khi thấy Sau-lơ đến đuổi theo mình,
4Por isso, Davi enviou espiões e confirmou que Saul realmente tinha chegado.
4bèn sai kẻ do thám đi, và biết chắc rằng Sau-lơ đã đến.
5Então Davi se levantou e foi ao lugar onde Saul estava acampado. Davi viu onde Saul dormia, com Abner, filho de Ner, comandante do seu exército. Saul dormia no centro do acampamento, cercado pelos carros, e o povo estava acampado ao redor dele.
5Bấy giờ, Đa-vít chổi dậy, đi đến tận nơi Sau-lơ hạ trại; người cũng thấy nơi ngủ của Sau-lơ và của Aùp-ne, con trai Nê-rơ, là quan tổng binh của người. Sau-lơ ngủ tại đồn, có đạo binh đóng trại xung quanh mình.
6Davi perguntou a Aimeleque, o hitita, e a Abisai, filho de Zeruia e irmão de Joabe: “Quem descerá comigo ao acampamento de Saul?” Abisai respondeu: “Eu descerei com você.”
6Đa-vít cất tiếng nói cùng A-hi-mê-léc, người Hê-tít, và A-bi-sai, con trai của Xê-ru-gia, em của Giô-áp, rằng: Ai muốn đi cùng ta xuống dinh Sau-lơ? A-bi-sai đáp: Tôi sẽ đi xuống với ông.
7Assim, Davi e Abisai chegaram ao acampamento durante a noite. Saul estava dormindo no centro do acampamento, com a lança fincada no chão junto à sua cabeça; Abner e o povo dormiam ao redor dele.
7Vậy, Đa-vít và A-bi-sai lúc ban đêm, vào giữa quân lính, thấy Sau-lơ đang ngủ, nằm trong đồn, cây giáo cặm dưới đất tại nơi đầu giường. Aùp-ne và quân lính nằm ở xung quanh người.
8Então Abisai disse a Davi: “Hoje Deus entregou seu inimigo em suas mãos. Agora, por favor, deixe-me cravá-lo no chão com um só golpe da lança; não precisarei de um segundo golpe.”
8A-bi-sai nói cùng Đa-vít rằng: Ngày nay Đức Chúa Trời đã phó kẻ thù nghịch ông vào tay ông. Xin cho phép tôi lấy giáo đâm người chỉ một cái mà cặm người xuống đất; chẳng cần phải đâm lại.
9Davi respondeu a Abisai: “Não o mate, pois quem pode estender a mão contra o ungido do SENHOR e ficar sem culpa?”
9Nhưng Đa-vít bảo A-bi-sai rằng: Đừng giết người; ai có thế tra tay trên kẻ chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va mà không bị phạt?
10Davi continuou: “Tão certo como vive o SENHOR, o próprio SENHOR o ferirá; ou chegará o dia de sua morte, ou ele descerá à batalha e perecerá.
10Người tiếp rằng: Ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống mà thề, Đức Giê-hô-va chắc sẽ đánh người, hoặc khi người đến k” định mà chết, hoặc khi người ra trận mà bị diệt vong.
11O SENHOR me livre de estender a mão contra o seu ungido! Agora, porém, pegue a lança que está junto à cabeça dele e o jarro de água, e vamos embora.”
11Nguyện Đức Giê-hô-va giữ, chớ cho tôi tra tay vào kẻ chịu xức dầu của Ngài! Ta xin ngươi chỉ hãy lấy cây giáo nơi đầu giường người cùng cái bình nước, rồi chúng ta hãy đi.
12Davi pegou a lança e o jarro de água que estavam junto à cabeça de Saul, e eles foram embora. Ninguém viu, percebeu ou acordou, pois todos dormiam; um sono profundo vindo do SENHOR havia caído sobre eles.
12Như vậy, Đa-vít lấy cây giáo và bình nước nơi đầu giường của Sau-lơ, rồi hai người đi. Không ai thấy hay là biết, và cũng chẳng ai tỉnh thức; hết thảy đều ngủ, vì Đức Giê-hô-va đã khiến sự ngủ mê giáng trên chúng nó.
13Davi passou para o outro lado e ficou no alto do monte, bem longe, com grande distância entre eles.
13Đoạn, Đa-vít sang qua bên kia, dừng lại tại trên chót núi, xa trại quân. có một khoảng xa cách nhau.
14Então Davi gritou para o povo e para Abner, filho de Ner: “Você não vai responder, Abner?” Abner respondeu: “Quem é você que está gritando para o rei?”
14Người gọi quân lính với Aùp-ne, con trai Nê-rơ mà nói rằng: Aùp-ne, người chẳng đáp lời sao? Aùp-ne đáp rằng: Ngươi là ai mà kêu la cùng vua?
15Davi disse a Abner: “Você não é um homem? Quem em Israel é como você? Então por que não vigiou seu senhor, o rei? Um dos homens entrou no acampamento para matar seu senhor, o rei.
15Đa-vít đáp cùng Aùp-ne rằng: Nào, ngươi há chẳng phải là một dõng sĩ sao? Trong Y-sơ-ra-ên ai bằng ngươi? Vậy, sao ngươi không canh giữ vua, là chúa của ngươi? Có kẻ trong dân sự đã đến muốn giết vua chúa ngươi.
16O que você fez não está certo. Tão certo como vive o SENHOR, você merece morrer, porque não vigiou seu senhor, o ungido do SENHOR. Veja agora onde estão a lança do rei e o jarro de água que ficava junto à cabeça dele.”
16Điều ngươi đã làm đó chẳng tốt đâu. Ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống mà thề, ngươi đáng chết, vì không canh giữ chúa ngươi, là đấng chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va. Bây giờ, hãy xem thử, cây giáo của vua và bình nước nơi đầu giường vua ở đâu?
17Saul reconheceu a voz de Davi e perguntou: “É sua voz, meu filho Davi?” Davi respondeu: “É minha voz, meu senhor e rei.”
17Sau-lơ nhận biết tiếng của Đa-vít, bèn nói rằng: Hỡi Đa-vít, con ta, có phải tiếng con chăng? Đa-vít thưa rằng: Hỡi vua chúa tôi, ấy là tiếng tôi.
18E acrescentou: “Por que meu senhor persegue seu servo? O que eu fiz? Que mal há em minhas mãos?
18Người tiếp: Cớ sao chúa đuổi theo tôi tớ chúa như vậy? Tôi có làm điều gì, và tay tôi đã phạm tội ác chi?
19Agora, por favor, que meu senhor, o rei, ouça as palavras de seu servo. Se foi o SENHOR quem o incitou contra mim, que ele aceite uma oferta. Mas, se foram homens, que sejam amaldiçoados diante do SENHOR, pois hoje me expulsaram para que eu não tenha parte na herança do SENHOR, dizendo: ‘Vá servir a outros deuses!’
19Bây giờ, xin vua hãy lắng nghe lời của tôi tớ vua. Nếu Đức Giê-hô-va xui giục vua hại tôi, nguyện Ngài nhậm mùi thơm của lễ, nhưng nếu là loài người, nguyện chúng bị rủa sả trước mặt Đức Giê-hô-va; vì ngày nay chúng đuổi tôi đi khỏi chỗ dành cho tôi trong sản nghiệp của Đức Giê-hô-va, và chúng nói rằng: Hãy đi, thờ tà thần.
20Agora, portanto, não deixe que meu sangue caia por terra longe da presença do SENHOR, pois o rei de Israel saiu à procura de uma pulga, como quem caça uma perdiz nos montes.”
20Oâi! nguyện huyết tôi chớ chảy ra trên đất cách xa mặt Đức Giê-hô-va; vì vua Y-sơ-ra-ên đã kéo ra đặng tìm một con bọ chét, như người ta đuổi theo chim đa đa trong núi vậy.
21Então Saul disse: “Pequei. Volte, meu filho Davi. Não lhe farei mais mal, porque hoje minha vida foi preciosa aos seus olhos. Agi como um tolo e cometi um grave erro.”
21Bấy giờ, Sau-lơ nói: Ta có phạm tội; hỡi Đa-vít, con ta, hãy trở lại! Ta sẽ chẳng làm hại cho con nữa, vì ngày nay, con đã kính nể mạng sống ta. Thật, ta đã làm điên cuồng, phạm một lỗi rất trọng.
22Davi respondeu: “Aqui está a lança do rei! Que um dos jovens venha buscá-la.
22Đa-vít nói: Nầy là cây giáo của vua; hãy cho một gã trai trẻ của vua đi qua đây mà lấy đi.
23O SENHOR recompensará cada um segundo sua justiça e sua fidelidade, pois hoje o SENHOR o entregou em minhas mãos, mas eu não quis estender a mão contra o ungido do SENHOR.
23Đức Giê-hô-va sẽ báo trả cho mọi người tùy theo sự công bình và trung tín của người; vì ngày nay Ngài đã phó vua vào tay tôi, mà tôi không khứng tra tay vào đấng chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va.
24Assim como hoje sua vida foi preciosa aos meus olhos, que minha vida seja preciosa aos olhos do SENHOR, e que ele me livre de toda aflição.”
24Ngày nay, tôi lấy mạng sống vua làm quí trọng thế nào, thì Đức Giê-hô-va cũng sẽ lấy mạng sống tôi làm quí trọng thể ấy, và giải cứu tôi khỏi các hoạn nạn.
25Então Saul disse a Davi: “Você é abençoado, meu filho Davi. Você fará grandes coisas e certamente vencerá.” Davi seguiu seu caminho, e Saul voltou para seu lugar.
25Sau-lơ nói cùng Đa-vít rằng: Hỡi Đa-vít, con ta, nguyện con được phước! Quả thật, con sẽ làm công việc lớn lao và được thắng hơn. Đoạn, Đa-vít cứ đi lối mình, còn Sau-lơ trở về nơi người.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.