1 Samuel
Chapter 25
Bíblia Portuguesa Mundia…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Samuel morreu; e todo o Israel se reuniu e chorou por ele, e o sepultaram em sua casa, em Ramá. Depois Davi se levantou e desceu para o deserto de Parã.
1Kế ấy, Sa-mu-ên qua đời; cả Y-sơ-ra-ên nhóm lại đặng than khóc người; rồi chôn người trong nhà người tại Ra-ma. Đa-vít bèn đứng dậy, đi xuống đồng vắng Pha-ran.
2Havia um homem em Maom que tinha as suas propriedades no Carmelo; e o homem era muito rico. Ele tinha três mil ovelhas e mil cabras; e estava tosquiando as suas ovelhas no Carmelo.
2Vả, có một người ở Ma-ôn, còn sản nghiệp nó thì ở Cạt-mên. Người rất giàu, có ba ngàn chiên, và một ngàn dê; người đang ở Cạt-mên đặng hớt lông chiên mình.
3Ora, o nome do homem era Nabal, e o nome da sua mulher era Abigail. Esta mulher era inteligente e muito formosa; mas o homem era rude e mau em seu modo de agir. Ele era da linhagem de Calebe.
3Người nầy tên là Na-banh, và vợ là A-bi-ga-in; vợ thì thông minh tốt đẹp, còn chồng thì cứng cỏi hung ác, thuộc về dòng Ca-lép.
4Davi ouviu no deserto que Nabal estava tosquiando as suas ovelhas.
4Đa-vít ở trong rừng hay rằng Na-banh hớt lông chiên,
5Davi enviou dez rapazes, e Davi disse aos jovens: “Subam ao Carmelo, vão a Nabal e saúdem-no em meu nome.
5bèn sai mười gã trai trẻ đi mà dặn rằng: Hãy đi lên Cạt-mên, tìm Na-banh, nhân danh ta chào người,
6E digam a ele: ‘Que o senhor tenha longa vida! Paz seja com o senhor! Paz seja com a sua casa! Paz seja com tudo o que é seu!
6và nói rằng: Nguyện ông được bình yên, nguyện nhà ông cũng được bình yên; phàm vật gì thuộc về ông đều được bình yên!
7Agora ouvi dizer que o senhor tem tosquiadores. Os seus pastores estiveram conosco, e nós não lhes fizemos mal algum. Nada lhes faltou durante todo o tempo em que estiveram no Carmelo.
7Và bây giờ, tôi có hay rằng ông có những thợ hớt lông chiên. Trong lúc các kẻ chăn chiên ông ở gần chúng tôi, chúng tôi chẳng hề khuấy khuất chúng nó; và trọn hồi chúng nó ở tại Cạt-mên, chẳng có thiếu mất gì hết.
8Pergunte aos seus próprios rapazes, e eles lhe dirão. Portanto, que estes rapazes encontrem favor aos seus olhos, pois chegamos em dia de festa. Por favor, dê o que houver à mão aos seus servos e ao seu filho Davi.’”
8Hãy hỏi tôi tớ ông về điều đó, chúng nó sẽ nói cùng ông. Vậy, xin các gã trai trẻ được ơn trước mặt ông, vì chúng tôi đến trong ngày tốt lành; hễ tay ông tìm thấy vật gì, hãy ban cho các tôi tớ ông, và cho con ông là Đa-vít.
9Quando os rapazes de Davi chegaram, disseram a Nabal todas essas palavras em nome de Davi, e esperaram.
9Vậy, các gã trai trẻ của Đa-vít đi đến nhân danh Đa-vít lặp lại cho Na-banh mọi lời ấy; đoạn nín lặng;
10Mas Nabal respondeu aos servos de Davi e disse: “Quem é Davi? Quem é o filho de Jessé? Hoje em dia há muitos escravos que fogem dos seus senhores.
10Nhưng Na-banh đáp cùng các tôi tớ Đa-vít rằng: Ai là Đa-vít? Ai là con trai của Y-sai? Những tôi tớ trốn khỏi chủ mình, ngày nay lấy làm đông thay!
11Pegaria eu, pois, o meu pão, a minha água e a carne que abati para os meus tosquiadores, e daria a homens que nem sei de onde vêm?”
11Lẽ nào ta sẽ lấy bánh, nước, và thịt ta dọn sẵn cho các thợ hớt lông chiên mà cho những kẻ chẳng biết ở đâu đến sao?
12Então os rapazes de Davi deram meia-volta, retornaram e foram contar a Davi todas essas palavras.
12Những gã trai trẻ của Đa-vít thối đường trở về. Đến nơi, chúng nó thuật lại các lời ấy cho Đa-vít nghe.
13Davi disse aos seus homens: “Cada um coloque a espada à cintura!” E cada homem cingiu a sua espada. Davi também cingiu a sua espada. Cerca de quatrocentos homens subiram atrás de Davi, e duzentos ficaram com a bagagem.
13Đa-vít bèn nói cùng các người theo mình rằng: Mỗi người trong chúng ta hãy đeo gươm mình. Chúng đeo gươm mình, và Đa-vít cũng đeo gươm của người. Ước chừng bốn trăm người đi lên theo Đa-vít, còn hai trăm người ở lại giữ đồ vật.
14Mas um dos jovens servos avisou Abigail, mulher de Nabal, dizendo: “Eis que Davi enviou mensageiros do deserto para saudar o nosso senhor; mas ele os insultou.
14Có một đứa đầy tớ báo tin cho A-bi-ga-in, vợ của Na-banh, rằng: Đa-vít có sai những sứ giả từ đồng vắng đến chào chủ chúng tôi, nhưng Na-banh ở gắt gỏng cùng họ.
15No entanto, aqueles homens foram muito bons para nós, e não sofremos nenhum mal, e não demos falta de nada durante todo o tempo em que convivemos com eles, enquanto estávamos nos campos.
15Song trọn lúc chúng tôi ở gần những người ấy tại trong đồng, thì họ rất tử tế cùng chúng tôi, chúng tôi không bị khuấy khuất, và chẳng thiếu mất vật chi hết.
16Eles foram como um muro para nós, tanto de dia como de noite, durante todo o tempo em que estivemos com eles cuidando das ovelhas.
16Bao lâu chúng tôi ở gần các người đó, lo chăn bầy chiên chúng tôi, thì ngày và đêm họ dường như tường che cho chúng tôi.
17Agora, pois, pense bem e veja o que a senhora pode fazer; pois o mal já está determinado contra o nosso senhor e contra toda a sua casa. Ele é um homem tão perverso que não se pode nem falar com ele.”
17Vậy bây giờ, khá xem xét điều bà phải làm; vì đã định giáng tai họa trên chủ chúng tôi và trên cả nhà người; chủ dữ quá, không có ai nói cùng người được.
18Então Abigail se apressou e pegou duzentos pães, dois odres de vinho, cinco ovelhas preparadas, cinco seás de grãos tostados, cem cachos de passas e duzentos bolos de figos, e os colocou sobre jumentos.
18A-bi-ga-in vội vàng lấy hai trăm ổ bánh, hai bầu da rượu nho, năm con chiên đực nấu chín, năm đấu hột rang, một trăm bánh nho khô, và hai trăm bánh trái vả khô, chất trên lưng lừa.
19E ela disse aos seus servos: “Vão adiante de mim. Eis que irei logo atrás de vocês.” Mas ela não contou nada ao seu marido, Nabal.
19Đoạn, người nói cùng các tôi tớ rằng: Hãy đi trước ta, ta sẽ đi theo các ngươi. Nhưng nàng không nói chi hết cùng Na-banh, chồng mình.
20Enquanto ela cavalgava no seu jumento, descendo pelo lado escondido da montanha, eis que Davi e os seus homens desciam na direção dela, e ela os encontrou.
20Nàng cỡi lừa đi xuống theo một con đường có núi bao phủ, thì Đa-vít và những kẻ theo người cũng đi xuống đụng mặt nàng; nàng bèn gặp các người đó.
21Ora, Davi tinha dito: “De nada adiantou eu ter protegido tudo o que esse sujeito tem no deserto, de modo que não se perdeu nada de tudo o que lhe pertencia. Ele me pagou o bem com o mal.
21Vả, Đa-vít có nói rằng: Vậy, thật lấy làm luống công cho ta đã gìn giữ mọi vật của người nầy có trong đồng vắng, đến đỗi chẳng thiếu mất gì hết. Còn hắn lại lấy oán trả ơn.
22Que Deus castigue os inimigos de Davi com severidade, e ainda mais, se até o amanhecer eu deixar vivo um só que urine na parede de todos os que lhe pertencem.”
22Nguyện Đức Chúa Trời xử kẻ thù nghịch của Đa-vít thật cho nặng nề! Từ đây đến mai, phàm vật gì thuộc về Na-banh, ta sẽ chẳng để còn lại vật nhỏ hơn hết.
23Quando Abigail viu Davi, ela desceu depressa do jumento, prostrou-se diante de Davi com o rosto em terra e se curvou.
23Khi a-bi-ga-in thấy Đa-vít, liền lật đật xuống lừa mình, và sấp mình xuống đất tại trước mặt Đa-vít mà lạy.
24Ela caiu aos pés dele e disse: “Sobre mim, meu senhor, caia a culpa! Por favor, deixe a sua serva falar. Ouça as palavras da sua serva.
24Vậy, nàng phục dưới chân người mà nói rằng: Lạy chúa, lỗi về tôi, về tôi! Xin cho phép con đòi ông nói trước mặt ông; xin hãy nghe các lời của con đòi ông.
25Por favor, que o meu senhor não dê atenção a este homem perverso, Nabal, pois ele é exatamente o que o seu nome significa. Nabal é o seu nome, e a insensatez está com ele; mas eu, a sua serva, não vi os rapazes que o meu senhor enviou.
25Xin chúa chớ kể đến người hung ác kia, là Na-banh; vì tánh hắn thật hiệp với nghĩa tên hắn: tên hắn là Na-banh, và nơi hắn có sự điên dại. Còn tôi, là con đòi chúa, chẳng có thấy những người chúa đã sai đến.
26Agora, pois, meu senhor, tão certo como vive o SENHOR e tão certo como o senhor vive, já que o SENHOR o impediu de derramar sangue e de se vingar com as próprias mãos, que os seus inimigos e todos os que procuram fazer o mal ao meu senhor sejam como Nabal.
26Bây giờ, Đức Giê-hô-va đã ngăn chúa đến làm đổ huyết ra, và lấy chính tay mình mà báo thù; tôi chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống và mạng sống của chúa mà thề: nguyện các thù nghịch chúa và kẻ tìm hại chúa đều như Na-banh!
27E agora que este presente, que a sua serva trouxe ao meu senhor, seja dado aos jovens que seguem o meu senhor.
27Và bây giờ, nầy là lễ vật mà con đòi chúa đem đến dâng cho chúa, để phát cho các người đi theo sau.
28Por favor, perdoe a ofensa da sua serva. Certamente o SENHOR fará uma casa firme para o meu senhor, porque o meu senhor luta as batalhas do SENHOR. Nenhum mal será achado no senhor em todos os seus dias.
28Xin hãy tha lỗi cho con đòi chúa! Đức Giê-hô-va quả hẳn sẽ lập nhà chúa được bền lâu, vì chúa đánh giặc cho Đức Giê-hô-va, và trọn đời chúa sẽ chẳng tìm thấy một sự ác nơi chúa.
29Mesmo que alguém se levante para persegui-lo e procurar tirar-lhe a vida, a vida do meu senhor estará guardada no feixe dos vivos com o SENHOR, o seu Deus. Mas a vida dos seus inimigos ele lançará para longe, como uma pedra lançada por uma funda.
29Nếu có ai dấy lên đặng bắt bớ và hại mạng sống chúa, thì Giê-hô-va đức Chúa Trời của chúa sẽ gìn giữ mạng sống của chúa trong bọc những người sống; còn mạng sống của kẻ thù nghịch chúa, Đức Giê-hô-va sẽ ném ra xa như khỏi trành ném đá vậy.
30E quando o SENHOR tiver feito ao meu senhor todo o bem que prometeu a seu respeito, e o tiver estabelecido como líder sobre Israel,
30Khi đức Giê-hô-va đã làm cho chúa tôi mọi sự lành mà Ngài đã hứa, và khi Ngài đã lập người làm đầu Y-sơ-ra-ên,
31o meu senhor não terá este peso na consciência nem o remorso de ter derramado sangue sem motivo, ou de ter se vingado com as próprias mãos. E quando o SENHOR abençoar o meu senhor, lembre-se da sua serva.”
31thì ước gì chúa tôi không phàn nàn và không bị lòng cắn rức vì đã vô cớ làm đổ máu ra và báo thù cho mình! Lại khi Đức Giê-hô-va đã làm ơn cho chúa tôi, nguyện chúa nhớ đến con đòi của chúa!
32Davi disse a Abigail: “Bendito seja o SENHOR, o Deus de Israel, que hoje a enviou ao meu encontro!
32Đa-vít đáp cùng A-bi-ga-in rằng: Đáng ngợi khen Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, vì đã sai ngươi đến đón ta ngày nay!
33Bendito seja o seu bom senso, e bendita seja você, que hoje me impediu de derramar sangue e de me vingar com as próprias mãos.
33Đáng khen sự khôn ngoan ngươi và chúc phước cho ngươi, vì ngày nay đã cản ta đến làm đổ huyết và ngăn ta dùng chính tay mình mà báo thù cho mình.
34Pois, tão certo como vive o SENHOR, o Deus de Israel, que me impediu de lhe fazer mal, se você não tivesse se apressado em vir ao meu encontro, certamente até o raiar do dia não teria sobrado a Nabal um só que urine na parede.”
34Nhưng ta chỉ Giê-hô-va Đức Chúa Trời hằng sống của Y-sơ-ra-ên, là Đấng đã cản ta làm điều ác, mà thề rằng, nếu nàng không vội vàng đến đón ta, thì đến sáng mai, phàm vật gì thuộc về Na-banh sẽ chẳng còn lại vật mọn hơn hết.
35Então Davi aceitou das mãos dela o que lhe havia trazido e disse-lhe: “Suba em paz para a sua casa. Veja, ouvi o que você disse e atendi ao seu pedido.”
35Vậy, Đa-vít nhận lễ vật do nơi tay nàng đem đến cho người, và nói rằng: Hãy trở lên nhà ngươi bình an. Hãy xem, ta đã nghe theo tiếng ngươi, và tiếp ngươi tử tế.
36Quando Abigail voltou para Nabal, eis que ele estava dando um banquete em sua casa, como um banquete de rei. O coração de Nabal estava alegre, pois ele estava muito bêbado. Por isso ela não lhe contou nada até o raiar do dia.
36Khi A-bi-ga-in trở về cùng Na-banh, thì Na-banh đang ăn tiệc trong nhà mình, thật như yến tiệc của vua vậy. Na-banh có lòng vui vẻ và say lắm. A-bi-ga-in không tỏ cho người biết điều gì hoặc cần kíp hay chăng, cho đến khi sáng.
37De manhã, quando os efeitos do vinho já haviam passado, a sua mulher lhe contou todas essas coisas; e o coração dele como que morreu dentro dele, e ele ficou como uma pedra.
37Nhưng sáng mai, khi Na-banh đã giã say rồi, vợ người thuật lại hết, lòng người bèn kinh hoảng, trở thành như đá.
38Cerca de dez dias depois, o SENHOR feriu Nabal, e ele morreu.
38Cách chừng mười ngày sau, Đức Giê-hô-va đánh Na-banh, và người chết.
39Quando Davi ouviu que Nabal estava morto, disse: “Bendito seja o SENHOR, que defendeu a minha causa contra a afronta que recebi de Nabal, e guardou o seu servo de fazer o mal. O SENHOR fez a maldade de Nabal cair sobre a própria cabeça dele.” Em seguida, Davi mandou uma mensagem a Abigail, pedindo-a em casamento.
39Khi Đa-vít hay Na-banh đã chết, thì nói rằng: Đáng ngợi khen Đức Giê-hô-va thay, vì đã xử đoán sự sỉ nhục mà tôi bị bởi Na-banh, và đã giữ tôi tớ Ngài khỏi làm điều ác! Đức Giê-hô-va đã khiến sự hung ác của Na-banh đổ lại trên đầu hắn! Đoạn, Đa-vít sai người đến hỏi A-bi-ga-in làm vợ mình.
40Os servos de Davi foram até Abigail, no Carmelo, e lhe disseram: “Davi nos enviou para levá-la a ele, para ser a sua mulher.”
40Những tôi tớ Đa-vít đến tìm A-bi-ga-in, tại Cạt-mên, mà nói rằng: Đa-vít sai chúng tôi đến cùng nàng, vì người toan lấy nàng làm vợ.
41Ela se levantou, curvou-se com o rosto em terra e disse: “Eis que a sua serva aqui está para servir e lavar os pés dos servos do meu senhor.”
41Nàng bèn chổi dậy, sấp mình xuống đất, mà nói rằng: Nầy con đòi của chúa sẽ làm tôi mọi chúa đặng rửa chân các tôi tớ của chúa tôi.
42Abigail levantou-se depressa e montou num jumento, acompanhada por cinco de suas servas; e ela seguiu os mensageiros de Davi, e tornou-se a sua mulher.
42Đoạn, A-bi-ga-in vụt đứng dậy, cỡi lừa mình, có năm con đòi đồng theo, mà đi với các sứ giả của Đa-vít, đặng làm vợ người.
43Davi também tomou Ainoã, de Jezreel; e ambas se tornaram suas mulheres.
43Đa-vít cũng có cưới A-hi-nô-am, ở Gít-rê-ên, và cả hai đều làm vợ người.
44Ora, Saul havia dado a sua filha Mical, mulher de Davi, a Palti, filho de Laís, que era de Galim.
44Vả, Sau-lơ đã gả Mi-canh, con gái mình, và là vợ của Đa-vít cho Phanh-ti, con trai của La-ít, người Ga-lim.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.