I. Samuela
Chapter 25
Baibala Hemolele (Hawaii…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1A MAKE iho la o Samuela; a hoakoakoaia'e la ka Iseraela a pau, a uwe iho la ia ia, a kanu aku la ia ia iloko o kona hale ma Rama. Ku ae la o Davida, a iho ilalo ma ka waonahele o Parana.
1Kế ấy, Sa-mu-ên qua đời; cả Y-sơ-ra-ên nhóm lại đặng than khóc người; rồi chôn người trong nhà người tại Ra-ma. Đa-vít bèn đứng dậy, đi xuống đồng vắng Pha-ran.
2A o kekahi kauaka ma Maona, a ma Karemela kona waiwai; a he kanaka waiwai loa ia, akolu ana tausani hipa, hookahi tausani kao; a ako iho la ia i kana poe hipa ma Karemela.
2Vả, có một người ở Ma-ôn, còn sản nghiệp nó thì ở Cạt-mên. Người rất giàu, có ba ngàn chiên, và một ngàn dê; người đang ở Cạt-mên đặng hớt lông chiên mình.
3O Nabala ka inoa o ua kanaka la, a o Abigaila ka inoa o kana wahine: a he wahine akamai i ka noonoo, a he maikai kona helehelena: aka, o ke kanaka, he huhu ia, a he hewa kana hana ana: no ko Kaleba ohana ia.
3Người nầy tên là Na-banh, và vợ là A-bi-ga-in; vợ thì thông minh tốt đẹp, còn chồng thì cứng cỏi hung ác, thuộc về dòng Ca-lép.
4A lohe ae la o Davida ma ka waonahele e ako aua o Nabala i kana poe hipa.
4Đa-vít ở trong rừng hay rằng Na-banh hớt lông chiên,
5Hoouna aku la o Davida i na kanaka ui he umi, a, i aku la o Davida i na kanaka ui, E pii ae oukou ma Karemela, a hele io Nabala la, a e aloha aku ia ia ma kuu inoa.
5bèn sai mười gã trai trẻ đi mà dặn rằng: Hãy đi lên Cạt-mên, tìm Na-banh, nhân danh ta chào người,
6Penei oukou e olelo aku ai ia ia e ola ana, Aloha oe, aloha ko ka hale, a aloha hoi kou mea a pau loa.
6và nói rằng: Nguyện ông được bình yên, nguyện nhà ông cũng được bình yên; phàm vật gì thuộc về ông đều được bình yên!
7A ua lohe iho nei au, aia no ia oe na mea ako huluhipa: o kou poe kahuhipa me makou, aole makou i hana ino aku ia lakou, aole i lilo kekahi o ko lakou mea i ka manawa a pau a lakou i noho ai ma Karemela.
7Và bây giờ, tôi có hay rằng ông có những thợ hớt lông chiên. Trong lúc các kẻ chăn chiên ông ở gần chúng tôi, chúng tôi chẳng hề khuấy khuất chúng nó; và trọn hồi chúng nó ở tại Cạt-mên, chẳng có thiếu mất gì hết.
8E ninau aku oe i kou poe kanaka ui, a e hai mai lakou ia oe. No ia mea, e loaa auanei i na kanaka ui ke aloha imua o kou maka: no ka mea, ua hiki mai makou i ka la maikai: ke noi aku nei au ia oe, o ka mea i loaa i kou lima e haawi na kau poe kauwa, a na kau keiki, na Davida.
8Hãy hỏi tôi tớ ông về điều đó, chúng nó sẽ nói cùng ông. Vậy, xin các gã trai trẻ được ơn trước mặt ông, vì chúng tôi đến trong ngày tốt lành; hễ tay ông tìm thấy vật gì, hãy ban cho các tôi tớ ông, và cho con ông là Đa-vít.
9A hiki aku la ka poe kanaka ui o Davida, hai aku la lakou ia Nabala ia mau olelo a pau ma ka inoa o Davida, a hooki iho la.
9Vậy, các gã trai trẻ của Đa-vít đi đến nhân danh Đa-vít lặp lại cho Na-banh mọi lời ấy; đoạn nín lặng;
10Olelo mai la o Nabala i na kauwa a Davida, i mai la, Owai la o Davida, owai hoi ke keiki a Iese? I neia manawa, ua nui na kauwa, o kela kanaka keia kanaka i mahuka mai ke alo aku o kona haku.
10Nhưng Na-banh đáp cùng các tôi tớ Đa-vít rằng: Ai là Đa-vít? Ai là con trai của Y-sai? Những tôi tớ trốn khỏi chủ mình, ngày nay lấy làm đông thay!
11E lawe anei au i kuu berena, a me ko'u wai, a me ka'u holoholona a'u i kalua'i na ka poe ako huluhipa, a e haawi aku na na kanaka a'u i ike ole ai i ko lakou wahi e hele mai nei?
11Lẽ nào ta sẽ lấy bánh, nước, và thịt ta dọn sẵn cho các thợ hớt lông chiên mà cho những kẻ chẳng biết ở đâu đến sao?
12A huli ae la na kanaka ui o Davida ma ko lakou ala, a hoi aku la a hiki, a hai aku la lakou ia ia ia mau olelo a pau.
12Những gã trai trẻ của Đa-vít thối đường trở về. Đến nơi, chúng nó thuật lại các lời ấy cho Đa-vít nghe.
13I aku la o Davida i kona poe kanaka, E hawele oukou o kela kanaka keia kanaka i kana pahikaua. A hawele iho la kela kanaka keia kanaka i kana pahikaua; a hawele iho hoi o Davida i kana pahikaua; aha haneri kanaka paha i hahai mahope o Davida; alua haneri i noho ma na ukana.
13Đa-vít bèn nói cùng các người theo mình rằng: Mỗi người trong chúng ta hãy đeo gươm mình. Chúng đeo gươm mình, và Đa-vít cũng đeo gươm của người. Ước chừng bốn trăm người đi lên theo Đa-vít, còn hai trăm người ở lại giữ đồ vật.
14A hai aku kekahi o ka poe kanaka ui ia Abigaila, ka wahine a Nabala, i aku la, Aia hoi, ua hoouna mai o Davida i na elele mai ka waonahele mai e aloha mai i ko makou haku, a lele ino aku oia ia lakou.
14Có một đứa đầy tớ báo tin cho A-bi-ga-in, vợ của Na-banh, rằng: Đa-vít có sai những sứ giả từ đồng vắng đến chào chủ chúng tôi, nhưng Na-banh ở gắt gỏng cùng họ.
15Aka, ua hana pono mai ia poe kanaka ia makou, aole i hana eha mai ia makou, aole i lilo kekahi mea o makou i na la a pau a makou i noho pu ai me lakou ma ke kula.
15Song trọn lúc chúng tôi ở gần những người ấy tại trong đồng, thì họ rất tử tế cùng chúng tôi, chúng tôi không bị khuấy khuất, và chẳng thiếu mất vật chi hết.
16He pa pohaku lakou no makou ma ka po a me ke ao, i na la a pau a makou i noho pu ai me lakou, e malama ana i ka poe hipa.
16Bao lâu chúng tôi ở gần các người đó, lo chăn bầy chiên chúng tôi, thì ngày và đêm họ dường như tường che cho chúng tôi.
17Ano hoi e noonoo oe a ike i kau mea e hana aku ai; no ka mea, ua manao hewa ia mai no to makou haku, a no kona ohua a pau; no ka mea, he keiki ia na Beliala, aole e pono ke olelo aku ia ia.
17Vậy bây giờ, khá xem xét điều bà phải làm; vì đã định giáng tai họa trên chủ chúng tôi và trên cả nhà người; chủ dữ quá, không có ai nói cùng người được.
18Alaila lalelale ae la o Abigaila, a lawe aku la i elua haneri pai berena, a i elua hue waina, a me na hipa elima i hoomakaukauia, a me na ipu hua palaoa elima i pulehuia, a i hookahi haneri paihuawaina maloo, a i elua haneri pai huafiku maloo, a kau ae la maluna o na hoki.
18A-bi-ga-in vội vàng lấy hai trăm ổ bánh, hai bầu da rượu nho, năm con chiên đực nấu chín, năm đấu hột rang, một trăm bánh nho khô, và hai trăm bánh trái vả khô, chất trên lưng lừa.
19I aku la ia i kana poe kauwa, E hele e oukou mamua o'u, aia hoi, e hahai ana au mahope o oukou. Aole ia i hai aku ia Nabala kana kane.
19Đoạn, người nói cùng các tôi tớ rằng: Hãy đi trước ta, ta sẽ đi theo các ngươi. Nhưng nàng không nói chi hết cùng Na-banh, chồng mình.
20A i kona holo ana maluna o ka hoki a hiki ma kahi malu o ka mauna, aia hoi o Davida a me kona poe kanaka e iho mai ana e halawai me ia, a halawai aku la ia me lakou.
20Nàng cỡi lừa đi xuống theo một con đường có núi bao phủ, thì Đa-vít và những kẻ theo người cũng đi xuống đụng mặt nàng; nàng bèn gặp các người đó.
21Ua olelo iho la o Davida, He oiaio, ua malama make hewa au i na mea a pau a keia kanaka ma ka waonahele, aole i lilo kekahi o kana mau mea a pau; a ua hoihoi mai ia i ka hewa ia'u no ka pono.
21Vả, Đa-vít có nói rằng: Vậy, thật lấy làm luống công cho ta đã gìn giữ mọi vật của người nầy có trong đồng vắng, đến đỗi chẳng thiếu mất gì hết. Còn hắn lại lấy oán trả ơn.
22Pela hoi, a e oi aku hoi ka ke Akua e hana aku ai i ka poe enemi o Davida, ke waiho au a hiki i ka malamalama o ke ao i kekahi o kona poe kane.
22Nguyện Đức Chúa Trời xử kẻ thù nghịch của Đa-vít thật cho nặng nề! Từ đây đến mai, phàm vật gì thuộc về Na-banh, ta sẽ chẳng để còn lại vật nhỏ hơn hết.
23A ike aku la o Abigaila ia Davida, lele koke iho la ia mai luna mai o ka hold, a haule ilalo ke alo imua o Davida, a kulou iho la ma ka honua.
23Khi a-bi-ga-in thấy Đa-vít, liền lật đật xuống lừa mình, và sấp mình xuống đất tại trước mặt Đa-vít mà lạy.
24A haule iho la ma kona wawae, i aku la, Maluna o'u, e kuu haku, maluna o'u ka hewa: a ke noi aku nei au, e ae mai oe i kau kauwawahine, e olelo aku maloko o kou pepeiao, a e hoolohe mai i ka olelo a kau kauwawahine.
24Vậy, nàng phục dưới chân người mà nói rằng: Lạy chúa, lỗi về tôi, về tôi! Xin cho phép con đòi ông nói trước mặt ông; xin hãy nghe các lời của con đòi ông.
25Ke noi aku nei au ia oe, mai manao nui kuu haku i keia kanaka hewa, ia Nabala: no ka mea, e like me ke ano o kona inoa, pela hoi ia, o Nabala kona inoa, a me ia no ka lapuwale: aka, aole i ike kau kauwawahine i ka poe kanaka ui au i hoouna mai ai.
25Xin chúa chớ kể đến người hung ác kia, là Na-banh; vì tánh hắn thật hiệp với nghĩa tên hắn: tên hắn là Na-banh, và nơi hắn có sự điên dại. Còn tôi, là con đòi chúa, chẳng có thấy những người chúa đã sai đến.
26Ano hoi, e kuu haku, ma ke ola o Iehova, a ma ke ola o kou uhane, no ke keakea ana o Iehova i kou hele mai e hookahe i ke koko, a me ka hoopai ana nou me kou lima iho, ano hoi, e lilo ana kou poe enemi, a me ka poe imi hewa i kuu haku, e like me Nabala.
26Bây giờ, Đức Giê-hô-va đã ngăn chúa đến làm đổ huyết ra, và lấy chính tay mình mà báo thù; tôi chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống và mạng sống của chúa mà thề: nguyện các thù nghịch chúa và kẻ tìm hại chúa đều như Na-banh!
27Ano hoi, o keia manawalea a kau kauwawahine i lawe mai nei na kuu haku, e haawiia'ku ia na ka poe kanaka ui e hele ana ma ka wawae o kuu haku.
27Và bây giờ, nầy là lễ vật mà con đòi chúa đem đến dâng cho chúa, để phát cho các người đi theo sau.
28Ke noi aku nei au ia oe, e kala ae oe i ka hala o kau kauwawahine: no ka mea, e hana io mai no o Iehova i hale mau no kuu haku; no ke kaua ana a kuu haku i na kaua o Iehova, aole i loaa ka hewa iloko ou i kou mau la.
28Xin hãy tha lỗi cho con đòi chúa! Đức Giê-hô-va quả hẳn sẽ lập nhà chúa được bền lâu, vì chúa đánh giặc cho Đức Giê-hô-va, và trọn đời chúa sẽ chẳng tìm thấy một sự ác nơi chúa.
29Aka, ua ku mai kekahi kanaka e hahai ia oe, a e imi i kou ola: aka, e nakii pu ia auanei ke ola o kuu haku iloko o ka pua o ka poe ola me Iehova kou Akua; a o ke ola o kou poe enemi, nana no lakou e maa aku mai loko ae o ka maa.
29Nếu có ai dấy lên đặng bắt bớ và hại mạng sống chúa, thì Giê-hô-va đức Chúa Trời của chúa sẽ gìn giữ mạng sống của chúa trong bọc những người sống; còn mạng sống của kẻ thù nghịch chúa, Đức Giê-hô-va sẽ ném ra xa như khỏi trành ném đá vậy.
30A i ka manawa e hana mai ai o Iehova no kuu haku, e like me ka pono a pau ana i olelo mai ai nou, a e hoolilo ia oe i alii no ka Iseraela;
30Khi đức Giê-hô-va đã làm cho chúa tôi mọi sự lành mà Ngài đã hứa, và khi Ngài đã lập người làm đầu Y-sơ-ra-ên,
31Alaila aole e lilo keia i mea kaumaha nou, a me ka hihia no ka naau o kuu haku, o kou hookahe ole ana i ke koko hala ole, a o ka hoopai ole ana o kuu haku nona: a i hana pono mai o Iehova i kuu haku, alaila e hoomanao oe i kau kauwawahine.
31thì ước gì chúa tôi không phàn nàn và không bị lòng cắn rức vì đã vô cớ làm đổ máu ra và báo thù cho mình! Lại khi Đức Giê-hô-va đã làm ơn cho chúa tôi, nguyện chúa nhớ đến con đòi của chúa!
32Olelo mai la o Davida ia Abigaila, E hoomaikaiia ke Akua o ka Iseraela, i kona hoouna ana mai ia oe i keia la e halawai me au:
32Đa-vít đáp cùng A-bi-ga-in rằng: Đáng ngợi khen Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, vì đã sai ngươi đến đón ta ngày nay!
33E hoomaikaiia kou naauao, a e hoomaikaiia oe i kou keakea ana mai ia'u i ka hele ana mai e hookahe i ke koko, a me ka hoopai ana no'u me kuu lima iho.
33Đáng khen sự khôn ngoan ngươi và chúc phước cho ngươi, vì ngày nay đã cản ta đến làm đổ huyết và ngăn ta dùng chính tay mình mà báo thù cho mình.
34He oiaio, ma ke ola o Iehova ke Akua o ka Iseraela, nana i keakea mai ia'u e hana hewa aku ia oe, ina paha aole oe i hele koke mai e halawai me au, ina aole koe ia Nabala a hiki i ka malamalama o ke ao kekahi o kona poe kane.
34Nhưng ta chỉ Giê-hô-va Đức Chúa Trời hằng sống của Y-sơ-ra-ên, là Đấng đã cản ta làm điều ác, mà thề rằng, nếu nàng không vội vàng đến đón ta, thì đến sáng mai, phàm vật gì thuộc về Na-banh sẽ chẳng còn lại vật mọn hơn hết.
35A lawe aku la o Davida mai kona lima aku i ka mea ana i lawe mai ai nana, a i aku la ia ia ia, E pii pomaikai oe ma kou hale; aia hoi, ua hoolohe aku au i kou leo, a ua maliu aku au ia oe.
35Vậy, Đa-vít nhận lễ vật do nơi tay nàng đem đến cho người, và nói rằng: Hãy trở lên nhà ngươi bình an. Hãy xem, ta đã nghe theo tiếng ngươi, và tiếp ngươi tử tế.
36A hoi aku la o Abigaila ia Nabala; aia hoi, he ahaaina kana ma kona hale e like me ka ahaaina alii; a ua olioli ka naau o Nabala iloko ona, no ka mea, ua ona loa: no ia mea, aole ia i hai iki aku ia ia, a hiki i ka malamalama o ke ao.
36Khi A-bi-ga-in trở về cùng Na-banh, thì Na-banh đang ăn tiệc trong nhà mình, thật như yến tiệc của vua vậy. Na-banh có lòng vui vẻ và say lắm. A-bi-ga-in không tỏ cho người biết điều gì hoặc cần kíp hay chăng, cho đến khi sáng.
37A ao ae la, i ka wa i hala aku ka waina mawaho o Nabala, a hai aku la kana wahine ia ia i keia mau mea, make iho la kona naau iloko ona, a like ia me ka pohaku.
37Nhưng sáng mai, khi Na-banh đã giã say rồi, vợ người thuật lại hết, lòng người bèn kinh hoảng, trở thành như đá.
38A he anahulu paha la ma ia hope mai, pepehi mai o Iehova ia Nabala, a make iho la ia.
38Cách chừng mười ngày sau, Đức Giê-hô-va đánh Na-banh, và người chết.
39A lohe ae la o Davida, ua make o Nabala, i iho la ia, E hoomaikaiia o Iehova, nana i hoopai aku maluna o Nabala i kuu hoinoia mai, a nana i keakea mai i kana kauwa i ole e hana ino; a ua hoihoi aku o Iehova i ka hewa o Nabala maluna o kona poo. A hoouna aku la o Davida, a kamailio me Abigaila e lawe ia ia i wahine nana.
39Khi Đa-vít hay Na-banh đã chết, thì nói rằng: Đáng ngợi khen Đức Giê-hô-va thay, vì đã xử đoán sự sỉ nhục mà tôi bị bởi Na-banh, và đã giữ tôi tớ Ngài khỏi làm điều ác! Đức Giê-hô-va đã khiến sự hung ác của Na-banh đổ lại trên đầu hắn! Đoạn, Đa-vít sai người đến hỏi A-bi-ga-in làm vợ mình.
40A hiki aku la na kauwa a Davida io Abigaila la ma Karemela, olelo aku la lakou ia ia, i aku la, Ua hoouna mai o Davida ia makou iou la e lawe ia oe i wahine nana.
40Những tôi tớ Đa-vít đến tìm A-bi-ga-in, tại Cạt-mên, mà nói rằng: Đa-vít sai chúng tôi đến cùng nàng, vì người toan lấy nàng làm vợ.
41Ku ae la ia, a kulou iho la me kona maka ma ka honua, i aku la, Aia hoi, e hooliloia kau kauwawahine i kauwa e holoi ai i na wawae o na kauwa a kuu haku.
41Nàng bèn chổi dậy, sấp mình xuống đất, mà nói rằng: Nầy con đòi của chúa sẽ làm tôi mọi chúa đặng rửa chân các tôi tớ của chúa tôi.
42A ku koke ae la o Abigaila, a hooholo maluna o ka hoki me kona mau wahine elima i hele mahope ona; a hahai aku la ia mahope o na elele a Davida, a lilo ia i wahine nana.
42Đoạn, A-bi-ga-in vụt đứng dậy, cỡi lừa mình, có năm con đòi đồng theo, mà đi với các sứ giả của Đa-vít, đặng làm vợ người.
43Lawe hoi o Davida ia Ahinoama no Iezereela, a lilo laua elua i mau wahine nana.
43Đa-vít cũng có cưới A-hi-nô-am, ở Gít-rê-ên, và cả hai đều làm vợ người.
44Ua haawi aku o Saula ia Mikala kana kaikamahine, ka wahine a Davida, i wahine na Paleti ke keiki a Laisa no Galima.
44Vả, Sau-lơ đã gả Mi-canh, con gái mình, và là vợ của Đa-vít cho Phanh-ti, con trai của La-ít, người Ga-lim.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.