I. Samuela 10
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1LAWE aku la o Samuela i ka hue aila, a ninini iho la maluna o kona poo, a honi aku la ia ia, i aku la, Aole anei keia no ka poni ana mai o Iehova ia oe i alii maluna o kona hooilina?
1Sa-mu-ên lấy một ve nhỏ đựng dầu, đổ trên đầu Sau-lơ, hôn người, mà nói rằng: Nầy Đức Giê-hô-va đã xức dầu cho ngươi đặng ngươi làm vua của cơ nghiệp Ngài.
2A hala oe mai o'u aku nei i keia la, alaila e loaa no ia oe na kanaka elua ma ka halelua o Rahela, ma ka mokuna o ka Beniamina, ma Zeleza; a e i mai laua ia oe, Ua loaa na hoki au i hele ai e imi: aia hoi, ua pau ka manao ana o kou makuakane i na hoki, a ua kaumaha oia ia olua, i ka i ana ae, Heaha ka'u e hana'i no kuu keiki?
2Ngày nay, khi đã lìa khỏi ta, ngươi sẽ gặp hai người gần bên mộ Ra-chên, trên bờ cõi xứ Bên-gia-min, tại Xết-sa; họ sẽ nói với ngươi rằng: Những lừa cái mà ngươi đi tìm đã gặp được rồi; này cha ngươi chẳng còn lo đến lừa cái nữa, nhưng lại lo sợ về các ngươi, tự hỏi rằng: Phải lo liệu sao về con trai ta?
3A malaila aku oe e hele ai, a hiki ma ka laau oka o Tabora, a e halawai mai me oe ilaila na kanaka ekolu e pii ana i ke Akua ma Betela: o kekahi e hali ana i na kao keiki ekolu, a o kekahi e hali ana i na pai palaoa ekolu, a o kekahi e hali ana i ka hue waina.
3Từ đó ngươi sẽ đi tới, đến cây dẻ bộp Tha-bô, ngươi sẽ gặp ba người đi lên Bê-tên đặng thờ lạy Đức Chúa Trời, một người chở ba con dê đực, một người đem ba ổ bánh, và người thứ ba đem một bầu da rượu.
4A e aloha mai lakou ia oe, a e haawi mai ia oe i elua pai berena; nau no ia e lawe mai ko lakou lima mai.
4Chúng sẽ chào ngươi và cho ngươi hai ổ bánh mà ngươi phải nhận lấy nơi tay chúng.
5Mahope iho e hiki aku oe i ka puu o ke Akua, malaila ka noho ana o ka poe koa o ko Pilisetia: a hiki aku oe ilaila i ke kulanakauhale, e halawai oe me ka poe kaula e iho ana ma kahi kiekie mai, me ka mea kani, a me ke kuolokani, a me ka mea hokio, a me ka mea ukeke imua o lakou; a e wanana lakou.
5Kế sau, ngươi sẽ đến Ghi-bê-a-Ê-lô-him, là nơi có một cái đồn của dân Phi-li-tin; khi đã vào thành, ngươi sẽ gặp một đoàn tiên tri từ nơi cao xuống, có đàn sắt, trống cơm, ống sáo, và đàn cầm đi trước; họ sẽ nói tiên tri.
6A e hiki mai ka Uhane o Iehova maluna ou, a e wanana pu oe me lakou, a e lilo oe i kanaka okoa.
6Thần của Đức Giê-hô-va sẽ cảm động ngươi nói tiên tri cùng chúng, rồi ngươi sẽ hóa ra một người khác.
7Aia hiki mai keia mau hoailona ia oe, e hana oe i ka mea i loaa i kou lima; no ka mea, me oe no ke Akua.
7Khi ngươi thấy các dấu hiệu nầy xảy ra, thì tùy cơ mà làm; Vì Đức Chúa Trời ở cùng ngươi!
8A e iho e oe mamua o'u i Gilegala; aia hoi e iho ana au i ou la, e kaumaha aku i na mohaikuni, a e kaumaha aku hoi i na mohai hoomalu; i na la ehiku oe e kali ai, a hiki aku au i ou la, a e hoike aku ia oe i ka mea au e hana aku ai.
8Đoạn hãy đi xuống trước ta đến Ghinh-ganh, ta sẽ theo ngươi ở đó đặng dâng của lễ thiêu và của lễ thù ân. Ngươi sẽ đợi bảy ngày cho đến chừng ta tới; bấy giờ ta sẽ dạy ngươi điều phải làm.
9A i ka wa i huli ae ia e hele aku mai o Samuela aku, haawi mai ke Akua i naau okoa nona: a hiki io mai ua mau hoailona la a pau ia la.
9Sau-lơ vừa xây lưng lìa khỏi Sa-mu-ên, Đức Chúa Trời bèn đổi lòng người ra khác, và các dấu hiệu đã bảo trước điều ứng nghiệm nội ngày ấy.
10A hiki aku laua malaila ma ka puu, aia hoi, he poe kaula i halawai mai me ia; a hiki mai ka Uhane o ke Akua maluna ona, a wanana pu aku la ia me lakou.
10Khi Sau-lơ đến Ghi-bê-a, có một đoàn tiên tri đến đón người. Thần của Đức Giê-hô-va cảm động người, người nói tiên tri giữa chúng.
11A o na mea a pau i ike ia ia i ka manawa mamua, ike lakou, aia hoi, e wanana ana oia me ka poe kaula, i ae la kekahi kanaka i kona hoalauna, Heaha keia i hiki mai ai i ke keiki a Kisa? O Saula anei kekahi me ka poe kaula?
11Khi những kẻ vốn quen biết Sau-lơ trước, thấy người nói tiên tri với các đấng tiên tri, thì hỏi nhau rằng: Con trai của Kích đã xảy ra làm sao? Sau-lơ cũng vào số các tiên tri ư?
12Olelo mai kekahi nolaila mai, i mai la, Owai ko lakou makuakane? No ia mea ua maa ia olelo, O Saula anei kekahi me ka poe kaula?
12Có người ở Ghi-bê-a đáp rằng: Mà cha họ là ai? Bởi đó có câu ngạn ngữ rằng: Sau-lơ há cũng vào số các tiên tri ư?
13A pau kana wanana ana, hele mai ia i kahi kiekie.
13Khi Sau-lơ thôi nói tiên tri, thì đi lên nơi cao.
14Ninau mai la kekahi makuakane o Saula ia ia, a i kana kauwa, Ihea la olua i hele ai? I aku la kela, I kahi e imi ai i na hoki: a ike maua, aole, hele maua io Samuela la.
14Chú Sau-lơ hỏi người và kẻ tôi tớ rằng: Hai ngươi đi đâu? Sau-lơ thưa rằng: Đi kiếm những lừa cái; và vì không gặp được, chúng tôi có cầu vấn Sa-mu-ên.
15I mai la kahi makuakane o Saula, Ke noi aku nei au ia oe, e hai mai ia'u, heaha ka mea a Samuela i olelo mai ai ia olua?
15Chú của Sau-lơ tiếp rằng: Xin cháu hãy tỏ cho chú biết điều Sa-mu-ên đã nói cùng hai ngươi.
16I aku la o Saula i kekahi makuakane ona, Ua hai maopopo mai ia ia maua i ka loaa ana o na hoki. Aka, o ka mea no ke aupuni a Samuela i olelo ai, aole ia i hai aku ia ia.
16Sau-lơ thưa cùng chú mình rằng: Người đã dạy tỏ cho chúng tôi rằng lừa cái đã tìm được rồi. Nhưng Sau-lơ không tỏ gì về điều Sa-mu-ên đã nói về việc nước.
17Houluulu ae la o Samuela i na kanaka io Iehova la ma Mizepa.
17Sa-mu-ên nhóm hiệp dân sự trước mặt Đức Giê-hô-va tại Mích-ba,
18I aku la i na mamo a Iseraela, Peneia ka olelo a Iehova ke Akua o ka Iseraela, Ua lawe mai nei au i ka Iseraela mai Aigupita mai, a ua hoopakele ia oukou i ka lima o ko Aigupita, a i ka lima o ko na aupuni a pau, a me ka poe i hooluhi ia oukou:
18rồi nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên có phán như vầy: Ta đã đem Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ê-díp-tô; ta đã giải cứu các ngươi khỏi tay dân Ê-díp-tô và khỏi tay mọi vua hà hiếp các ngươi.
19A ua hoowahawaha oukou i ko oukou Akua i keia la, oia ka i hoola ia oukou i na mea ino a pau a me na popilikia o oukou; ua i aku oukou ia ia, E hoonoho i alii maluna o makou. No ia mea, e hoike oukou ia oukou iho imua o Iehova ma ko oukou mau hanauna, a ma ko oukou mau tausani.
19Ngày nay các ngươi từ chối Đức Chúa Trời của các ngươi, là Đấng đã giải cứu các ngươi khỏi mọi sự hoạn nạn và nguy hiểm; các ngươi đã thưa cùng Ngài rằng: Xin hãy lập một vua quản trị chúng tôi! Vậy bây giờ, hãy ứng hầu trước mặt Đức Giê-hô-va từ chi phái và từ hằng ngàn người.
20A hookokoke mai o Samuela i na hanauna kanaka a pau o ka Iseraela, ua laweia ka hanauna o ka Beniamina.
20Sa-mu-ên biểu mọi chi phái Y-sơ-ra-ên đến gần, rồi chi phái Bên-gia-min được chỉ định.
21A hookokoke mai ia i ka hanauna o ka Beniamina ma ko lakou mau ohana, ua laweia ka ohana o Materi, a ua laweia o Saula ke keiki a Kisa; a imi lakou ia ia, aole i loaa.
21Người biểu chi phái Bên-gia-min đến gần từ họ hàng, rồi họ Mát-ri được chỉ định. Đoạn, Sau-lơ, con trai của Kích được chỉ định. Người ta tìm Sau-lơ nhưng không thấy.
22No ia mea, ninau hou lakou ia Iehova, E hiki mai auanei ua kanaka la maanei? I mai la o Iehova, Aia, ua pee oia maloko o na ukana.
22Chúng bèn hỏi lại Đức Giê-hô-va rằng: Còn có người nào khác sẽ đến đây chăng? Đức Giê-hô-va đáp: Kìa, nó ẩn trong đồ đạc kia.
23Holo lakou a lawe mai ia ia mai laila mai: a i ke ku ana oia iwaena o na kanaka, na oi kona kiekie mamua o ko na kanaka a pau, mai kona poohiwi aku, a hala loa iluna.
23Người ta chạy tìm người tại chỗ đó. Sau-lơ ra mặt giữa dân sự, người cao hơn cả chúng từ vai trở lên.
24Olelo aku la o Samuela i na kanaka a pau, E nana oukou ia ia nei, i ka mea a Iehova i wae ai, aohe kona like iwaena o na kanaka a pau, Hooho aku la na kanaka a pau, i aku la, E ola ke alii.
24Sa-mu-ên nói cùng cả dân sự rằng: Các ngươi có thấy người mà Đức Giê-hô-va đã chọn chăng? Trong cả dân sự không có ai giống như người. Hết thảy đều tung hô mà la lên rằng: Nguyện vua vạn tuế!
25Alaila hai aku la o Samuela i ke ano o ke aupuni, a kakau iloko o ka buke, a waiho ia imua o Iehova. A hoihoi aku la o Samuela i na kanaka a pau, i kela mea i keia mea i kona hale iho.
25Sa-mu-ên tuyên giảng luật pháp của nước tại trước mặt dân sự, chép trong một cuốn sách mà người để trước mặt Đức Giê-hô-va. Đoạn, Sa-mu-ên cho cả dân sự ai về nhà nấy.
26A hoi aku la o Saula i kona wahi ma Gibea; a hele pu me ia kekahi poe kanaka, na ke Akua i hoopa mai ko lakou naau.
26Sau-lơ cũng về nhà mình tại Ghi-bê-a, có những người dõng sĩ chịu Đức Chúa Trời cảm động lòng đều đi theo người.
27Aka, olelo mai la ka poe hewa, Pehea la e hoola mai ai keia kanaka ia kakou? a hoowahawaha lakou ia ia, aole i lawe mai lakou i na haawina ia ia; aka, noho malie no ia.
27Song có mấy người phỉ đồ nói rằng: Hắn đó cứu giúp chúng ta được việc chi? Chúng nó khinh dể người, không đem lễ vật gì cho người hết. Nhưng Sau-lơ giả đò không nghe.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.