2 Siangpahrang
Chapter 14
Asang Khongca Bible (Eas…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Israel siangpahrang Jehoahaz capa Joash siangpahrang ah ohhaih saning hnetto haih naah, Judah siangpahrang Joash capa Amaziah to siangpahrang ah oh.
1Năm thứ hai đời Giô-ách, con trai Giô-a-cha, vua Y-sơ-ra-ên, thì A-ma-xia, con trai Giô-ách, vua Giu-đa, lên ngôi.
2Anih loe siangpahrang ah oh naah saning pumphae pangato oh boeh; anih loe Jerusalem ah saning pumphae takawtto thung siangpahrang ah oh. Amno ih ahmin loe Jehoaddan, anih loe Jerusalem ih kami ah oh.
2Người được hai mươi lăm tuổi, khi tức vị vua, và cai trị hai mươi chín năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ người tên là Giê-hoa-đan, quê ở Giê-ru-sa-lem.
3Anih loe Angraeng mikhnukah kahoih hmuen to sak; toe ampa David mah sak ih hmuen baktiah sah ai. Ampa Joash mah sak ih hmuennawk boih to a sak.
3Người làm điều thiện trước mặt Đức Giê-hô-va, song chẳng như Đa-vít, tổ tiên người người làm theo mọi điều của Giô-ách, cha mình đã làm.
4Hmuensangnawk to takhoe ai pongah, to hmuensangnawk ah kaminawk mah angbawnhaih to sak o moe, hmuihoih to thlaek o.
4Dầu vậy, người không dỡ các nơi cao đi; dân sự cứ tế lễ và xông hương trên các nơi cao ấy.
5Prae to a ban thungah kacakah suek pacoengah, ampa siangpahrang kahum a tamna hnik to a hum let.
5Vừa khi nước người được vững chắc, người bèn xử tử những tôi tớ đã giết vua cha mình.
6Toe Angraeng mah lokpaek ih Mosi Cabu thungah, A caanawk pongah ampanawk to hum han om ai, ampanawk pongah a caanawk to hum han om ai; kami boih angmah ih zaehaih pongah ni duek han oh, tiah tarik ih oh pongah, a caanawk loe hum pae ai.
6Nhưng người không xử tử con cái của kẻ sát nhân ấy, y theo lời đã chép trong sách luật pháp của Môi-se; trong đó Đức Giê-hô-va có phán rằng: Người ta sẽ không giết cha thế cho con, cũng sẽ chẳng giết con thế cho cha; mỗi người sẽ chết vì tội lỗi riêng mình.
7Anih loe Edom kami sang hato Paloi azawn ah hum moe, Sela vangpui to a tuk pongah, vaihni ni khoek to to ahmuen to Joktheel, tiah kawk o.
7A-ma-xia giết một muôn quân Ê-đôm tại trong trũng Muối, hãm lấy thành Sê-la, và đặt tên là Giốc-then, hãy còn đến ngày nay.
8To pacoengah Amaziah mah Israel siangpahrang Jehu capa Jehoahaz, Jehoahaz capa Jehoash khaeah laicaehnawk patoeh, Angzo ah, mikhmai kangtongah angqum hoi si, tiah a naa.
8Đoạn, A-ma-xia sai sứ giả đến cùng Giô-ách, con trai Giô-a-cha, cháu Giê-hu, vua Y-sơ-ra-ên, mà nói rằng: Hãy đến, để chúng ta tranh chiến nhau.
9Israel siangpahrang Jehoash mah Judah siangpahrang Amaziah khaeah, Lebanon ih soekhringkung mah Lebanon ih hmaica thing khaeah, Ka capa ih zu hanah na canu to na paek ah, tiah lokpat pae; to naah Labanon ih moisan maeto angzoh moe, soekhringkung to khok hoiah atit phaeng.
9Giô-ách, vua Y-sơ-ra-ên, sai sứ trả lời lại với A-ma-xia, vua Giu-đa, mà rằng: Cây gai tại Li-ban sai nói với cây hương nam cũng ở Li-ban, mà rằng: Hãy gả con gái ngươi làm vợ con trai ta. Nhưng có thú rừng của Li-ban đi ngang qua, giày đạp cây gai nầy dưới chân.
10Edom to na pazawk pongah nam oek; na pazawk pongah amoek ah, toe im ah omduem ah; tih han ih nangmah hoi Judah nawnto amtimh hanah, raihaih na ohsak loe? tiah a naa.
10Ngươi đã đánh dân Ê-đôm và lòng ngươi đầy kiêu ngạo. Khá hưởng vinh hiển, và ở lại trong nhà ngươi; cớ sao ngươi muốn gây cho mình mắc tai vạ, khiến cho ngươi và Giu-đa bị hư hại?
11Toe Amaziah mah tahngai pae ai. To pongah Israel siangpahrang Jehoash loe caeh tahang moe, Judah siangpahrang Amaziah hoi Judah prae Beth-Shemesh ah mikhmai kangtongah anghnuk hoi.
11A-ma-xia không muốn nghe Giô-ách. Vậy, Giô-ách, vua Y-sơ-ra-ên, bèn đi lên, rồi người và A-ma-xia, vua Giu-đa, giao chiến nhau tại Bết-Sê-mết, trong xứ Giu-đa.
12Israelnawk mah Judahnawk to pazawk; kaminawk loe angmacae im ah cawnh o boih.
12Quân Giu-đa bị quân Y-sơ-ra-ên đánh bại; quân Giu-đa bèn chạy trốn, mỗi người về trại mình.
13Israel siangpahrang Jehoash mah Ahaziah capa Joash, Joash capa Judah siangpahrang Amaziah to Beth-Shemesh ah naeh, Jehoash loe Jerusalem ah caeh moe, Jerusalem ih sipae to Ephraim khongkha hoi im takii ih khongkha khoek to phraek; a phraek ih sipae loe dong cumvai palito oh.
13Tại Bết-Sê-mết, Giô-ách, vua Y-sơ-ra-ên, bắt A-ma-xia vua Giu-đa, con trai Giô-ách cháu A-cha-xia; đoạn đi đến Giê-ru-sa-lem, phá vách thành từ cửa Eùp-ra-im cho đến cửa Góc, một khúc dài bốn trăm thước.
14Sui hoi phoisanawk, Angraeng imthung ah kaom laom sabaenawk, siangpahrang im ih phoisanawk to a lak boih, kaminawk doeh misong ah caeh haih pacoengah, Samaria ah amlaem let.
14Người đoạt lấy những vàng, bạc, và mọi khí dụng ở trong đền thờ của Đức Gie-hô-va, và những bửu vật của đền vua; người cũng lấy kẻ cầm làm tin, rồi trở về Sa-ma-ri.
15Jehoash siangpahrang ah oh nathung kaom hmuennawk, a sak ih hmuennawk, a thacakhaihnawk, Judah siangpahrang Amaziah hoi misa angtukhaih kawngnawk boih loe, Israel siangpahrangnawk ahmin pakuemhaih cabu thungah tarik o na ai maw?
15Các chuyện khác của Giô-ách những công việc người làm, sự mạnh dạn người, cuộc chiến trận của người với A-ma-xia, vua Giu-đa, đều đã chép trong sử ký về các vua Y-sơ-ra-ên.
16Jehoash loe ampanawk khaeah anghak moe, Samaria vangpui ah Israel siangpahrangnawk khaeah aphum o; anih zuengah a capa Jeroboam to siangpahrang ah oh.
16Giô-ách an giấc cùng các tổ phụ người, và được chôn tại Sa-ma-ri chung cùng các vua Y-sơ-ra-ên; rồi Giê-rô-bô-am, con trai người, kế vị người.
17Israel siangpahrang Jehoahaz capa Jehoash duek pacoengah, Judah siangpahrang Joash capa Amaziah loe saning hatlaipangato hing vop.
17A-ma-xia, con trai Giô-ách, vua Giu-đa, còn sống mười lăm năm, sau khi Giô-ách, con trai Giô-a-cha, vua Y-sơ-ra-ên, đã băng hà.
18Amaziah siangpahrang ah oh nathung, a sak ih hmuennawk loe Judah siangpahrangnawk ahmin pakuemhaih cabu pongah tarik o na ai maw?
18Các chuyện khác của A-ma-xia, đều chép trong sử ký về các vua Giu-đa.
19Jerusalem ah anih to hum han pacaeng o pongah, anih loe Lakish vangpui ah cawnh ving, toe Lakish ah kami to patoeh moe, to ah anih to hum o.
19Tại Giê-ru-sa-lem có kẻ phản nghịch với người; người bèn trốn đến La-ki. Nhưng người ta sai rượt theo người đến La-ki, và giết người tại đó.
20Anih to hrang hoi phawh o moe, Jerusalem ah ampanawk khaeah, David vangpui ah aphum o.
20Đoạn, có người chở thây người trên ngựa đến Giê-ru-sa-lem, và chôn người chung cùng các tổ phụ người, tại thành Đa-vít.
21Judah kaminawk boih mah saning hatlaitarukto kaom, Azariah to lak o moe, ampa zuengah siangpahrang ah suek o.
21Cả dân Giu-đa bèn lập A-xa-ria làm vua thế cho A-ma-xia, cha người; tuổi người đã mười sáu.
22Amaziah loe ampa duek pacoengah, Elath vangpui to sak moe, Judah prae thungah suek let.
22Sau khi vua cha an giấc cùng các tổ phụ mình, người lại xây Ê-lát, và khôi phục thành ấy về dưới quyền Giu-đa.
23Judah siangpahrang Joash capa, Amaziah siangpahrang ah ohhaih saning hatlaipangato haih naah, Israel siangpahrang Joash capa Jeroboam to Samaria ah siangpahrang ah oh; anih loe saning quipalito pacoeng, saningto thung siangpahrang ah oh.
23Năm thứ mười lăm đời A-ma-xia, con trai Giô-ách, vua Giu-đa, thì Giê-rô-bô-am, con trai Giô-ách, lên ngôi làm vua Y-sơ-ra-ên tại Sa-ma-ri. Người cai trị bốn mươi bốn năm.
24Israel kaminawk zaesakkung, Nebat capa Jeroboam ih zaehaih to caehtaak ai; Angraeng mikhnukah kahoih ai hmuen to a sak.
24Người làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va, chẳng từ bỏ tội lỗi của Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội.
25Israel Angraeng Sithaw loe Gath-Hepher vangpui ah kaom a tamna Amittai capa Jonah khaeah thuih ih lok baktih toengah, anih loe Israel prae ramri to Hamath vangpui akunhaih ahmuen hoi azawn ih tuipui khoek to angmah ih prae ah suek.
25Người khôi phục bờ cõi Y-sơ-ra-ên từ nơi giáp Ha-mát cho đến biển đồng bằng, theo như lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã phán bởi miệng tiên tri Giô-na, tôi tớ Ngài, là con trai A-mi-tai, ở tại Gát-Hê-phe.
26Israel prae thung ih kaminawk loe, tamna doeh, kaloih kami doeh, paroeai patangkhang o, nihcae bomkung mi doeh om ai, tiah Angraeng mah hnuk.
26Vả, Đức Giê-hô-va đã thấy Y-sơ-ra-ên bị gian nan rất cay đắng; vì trong Y-sơ-ra-ên chẳng còn ai tự do, hoặc nô lệ nữa, cũng chẳng có ai tiếp cứu Y-sơ-ra-ên.
27Israel ih ahmin loe ni tlim hoiah phraek ving han ai ah, Angraeng mah poekhaih tawnh pongah, Joash capa Jeroboam ih ban patohhaih rang hoiah nihcae to pahlong.
27Đức Giê-hô-va không có phán rằng Ngài sẽ xóa danh Y-sơ-ra-ên khỏi dưới trời, bèn cậy Giê-rô-bô-am, con trai Giô-ách, mà giải cứu họ.
28Jeroboam siangpahrang ah oh nathung kaom hmuen hoi a sak ih hmuennawk, a thacakhaihnawk, misatukhaihnawk, Judah prae thungah kaom Damaska hoi Hamath, misa ban thung hoi lak lethaih kawngnawk boih loe, Israel siangpahrangnawk ahmin pakuemhaih cabu thungah tarik o na ai maw?
28Các chuyện khác của Giê-rô-bô-am, những công việc người, sự mạnh dạn người, thể nào người chiến trận và khôi phục lại cho Y-sơ-ra-ên Đa-mách và Ha-mát trước đã phục Giu-đa, mọi việc ấy đều đã chép trong sử ký về các vua Y-sơ-ra-ên.
29Jeroboam loe ampanawk, Israel siangpahrangnawk khaeah anghak; anih zuengah a capa Zakariah to siangpahrang ah oh.
29Giê-rô-bô-am an giấc cùng các tổ phụ người, là các vua Y-sơ-ra-ên; rồi Xa-cha-ri, con trai người, kế vị người.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.