2 Siangpahrang 11
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
11 Ahaziah amno Athaliah mah capa duek boeh, tiah panoek naah, angthawk moe, siangpahrang imthung takohnawk to hum boih.
1Khi A-tha-li, mẹ của A-cha-xia, thấy con trai mình đã chết rồi, bèn chổi dậy giết hết thảy dòng vua.
2Toe siangpahrang Joram canu, Ahaziah ih tanuh, Jehosheba mah Ahaziah capa Joash to lak moe, hum han kaom siangpahrang capanawk salak hoiah paquk ving; anih hoi anih khenzawnkung Athaliah khae hoi loih thai hanah, imthung ah a hawk ving; to pongah anih loe hum ih kaminawk thungah athum ai.
2Nhưng Giô-sê-ba, con gái của vua Giô-ram, và là chị A-cha-xia, bắt trộm Giô-ách, con trai của A-cha-xia, khỏi vòng các vương tử mà A-tha-li toan giết, rồi để người trong phòng ngủ với vú nuôi người, và giấu người khỏi mắt A-tha-li; vì vậy người không bị giết.
3Anih loe Athaliah mah prae uk nathung, angmah khenzawnkung hoiah nawnto saning tarukto thung anghawk.
3Người ở với Giô-sê-ba, ẩn tại nơi đền thờ của Đức Giê-hô-va trong sáu năm, còn A-tha-li cai trị trên xứ.
4Saning sarihto naah loe, Jehoiada mah misatuh kami cumvaito ukkungnawk, misatuh angraengnawk hoi misatoep kaminawk boih, angmah khaeah Angraeng ih tempul ah angzoh hanah kawk; nihcae hoi nawnto lokmaihaih to a sak moe, Angraeng im ah nihcae to lokkamhaih saksak. To pacoengah siangpahrang capa to nihcae khaeah patuek.
4Năm thứ bảy, Giê-hô-gia-đa vời các quan cai hàng trăm quân canh và những quân hộ vệ đến cùng người trong đền thờ của Đức Giê-hô-va. Người lập ước cùng chúng, và bắt chúng thề tại trong đền thờ của Đức Giê-hô-va; người chỉ con trai của vua cho chúng.
5Anih mah nihcae khaeah, Hae hmuen hae na sak o han oh; Sabath niah akun kami abu thumto thungah maeto mah siangpahrang im to toep oh;
5Đoạn, người truyền lịnh cho chúng rằng: Này là điều các ngươi sẽ làm: Một phần ba trong các ngươi đến phiên ngày Sa-bát, sẽ giữ cung vua;
6thumto thungah maeto mah Sur khongkha to toep oh, kalah thumto thungah maeto bae mah misatoep kami ohhaih hnukbang ih khongkha to toep oh, tempul amro han ai ah to tiah toep oh.
6một phần ba sẽ canh cửa Su-rơ, còn một phần ba sẽ ở nơi cửa sau các quân hộ vệ. Các ngươi sẽ giữ cung điện, cản không cho ai vào hết.
7Sabbath niah toksak han tacawt kami abu thumto thungah maeto mah siangpahrang taeng ih Angraeng im to toep oh.
7Lại hai phần ba trong các ngươi mãn phiên ngày Sa-bát, sẽ ở gần vua, canh giữ đền thờ của Đức Giê-hô-va.
8Siangpahrang taengah om oh loe, kami boih ban ah maiphawmaica to sin oh; nangcae ohhaih ahmuen thungah akun kaminawk to hum o boih ah; siangpahrang caehhaih hoi akunhaih ahmuen to toep o boih ah, tiah a naa.
8Các ngươi sẽ vây chung quanh vua, mỗi người cầm binh khí mình nơi tay. Ai muốn vào trong hàng các ngươi, thì hãy giết nó đi. Hễ vua đi ra đi vô, các ngươi phải ở với người.
9Qaima Jehoiada mah thuih ih lok baktih toengah, cumvaito ukkung misatuh angraengnawk mah sak o; Sabbath niah angzo kami hoi tacawt kaminawk boih qaima Jehoida khaeah caeh o.
9Các quan cai làm theo lịnh của thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa. Mỗi người lãnh những kẻ thủ hạ mình, hoặc người đến phiên ngày Sa-bát, hay là người mãn phiên trong ngày Sa-bát, mà đi đến thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa.
10Qaima mah Angraeng imthung ah kaom, David ih tayae hoi aphawnawk to cumvaito ukkung misatuh angraengnawk khaeah paek.
10Thầy tế lễ phát cho các quan cai những giáo và khiên thuộc về vua Đa-vít, ở tại trong đền thờ của Đức Giê-hô-va.
11Misatoep kaminawk loe ban ah maiphawmaica to sin o boih; siangpahrang taengah oh o moe, hmaicam hoi tempul taengah, tempul takii aluek aloih bangah oh o boih.
11Các quân hộ vệ mỗi người cầm binh khí nơi tay, sắp hàng đứng chung quanh vua, dài theo đền thờ và bàn thờ, từ góc nam cho đến góc bắc của đền thờ.
12Jehoiada mah siangpahrang capa to angzoh haih; angraeng lumuek to angmueksak moe, anih to cabu hoiah lokkamhaih saksak; to pacoengah anih to siangpahrang ah taphong o. Anih to situi bawh o; kaminawk loe, Siangpahrang hinglung sawk nasoe, tiah ban tabaeng hoiah hangh o.
12Giê-hô-gia-đa bèn đem vương tử ra, đội mão triều thiên trên đếu người, và trao luật pháp cho người. Vậy, họ tôn người lên làm vua, xức dầu cho, và hết thảy đều vỗ tay la lên rằng: Vua vạn tuế!
13Misatoep kaminawk hoi kaminawk hanghaih lok to Athaliah mah thaih naah, kaminawk ohhaih Angraeng im ah caeh.
13Khi A-tha-li nghe tiếng quân hộ vệ và tiếng dân sự, bèn bền đến cùng dân sự tại trong đền thờ của Đức Giê-hô-va.
14Anih mah doeng naah, khenah, Judah atawk baktiah siangpahrang loe homh maeto taengah angdoet, siangpahrang taengah angraengnawk hoi mongkah ueng kaminawk to oh o, prae kaminawk loe anghoe o moe, kaminawk mah mongkah to ueng o, tiah a hnuk naah, Athaliah mah angmah ih kahni to asih moe, Prae nuiah oep om ai kami, prae nuiah oep om ai kami, tiah a hangh.
14Bà xem thấy vua đứng trên tòa như lệ thường, có các quan cai và các kẻ thổi kèn đứng gần người, và cả dân sự của xứ đều vui mừng và thổi kèn. A-tha-li bèn xé áo mình và la lên rằng: Phản ngụy! phản ngụy!
15Qaima Jehoiada mah cumvaito misatuh zaehoikung angraengnawk, misatuh khenzawnkungnawk khaeah, Anih to Angraeng imthung ah hum o hmah, tasa bangah pathok oh, to nongpata hnukbang kami loe sumsen hoiah hum oh, tiah a naa.
15Nhưng thầy tế lễ Giêiêô-gia-đa truyền lịnh cho những quan cai đạo quân, mà rằng: Hãy dẫn nàng ra ngoài khỏi giữa hàng quân, và hễ kẻ nào theo nàng, khá giết nó bằng gươm. Vì thầy tế lễ đã dạy rằng: Chớ giết nàng trong đền thờ của Đức Giê-hô-va.
16Athaliah to naeh o moe, siangpahrang im akunhaih hrang angthuenghaih loklam ah caeh o haih moe, to ah anih to hum o.
16Người ta vẹt bên đường cho bà đi; bà trở vào cung vua bởi nơi vào cửa ngựa, và tại đó bà bị giết.
17Jehoiada mah siangpahrang hoi kaminawk boih Angraeng ih kami ah oh o hanah, Agraeng hoi lokmaihaih to saksak; siangpahrang hoi kaminawk salakah doeh lokmaihaih saksak let bae vop.
17Giê-hô-gia-đa lập giao ước tại giữa Đức Giê-hô-va, vua và dân sự, hầu cho dân Y-sơ-ra-ên làm dân sự của Đức Giê-hô-va. Người cũng lập một giao ước giữa vua và dân sự.
18Prae thung ih kaminawk boih Baal tempul ah caeh o moe, tempul to phraek o; anih ih hmaicamnawk hoi krangnawk to vah o phaeng moe, Baal ih qaima Mattan to hmaicam hmaa ah hum o. Qaima Jehoiada mah Angraeng ih tempul khen kaminawk to suek.
18Cả dân sự của xứ đều đi đến miễu Ba-anh mà phá dỡ nó đi, đập bể bàn thờ và hình tượng của Ba-anh, và giết Ma-than, thầy tế lễ Ba-anh, tại trước bàn thờ. Đoạn, thầy tế lễ cất người canh giữ đền thờ của Đức Giê-hô-va.
19Cumvaito ukkung angraengnawk, misatuh angraengnawk, misatoep kaminawk hoi prae thung ih kaminawk to kawk boih moe, singpahrang to Angraeng ih tempul hoi siangpahrang im ah, misatoep kaminawk ih khongkha caehhaih loklam bang hoiah caeh o haih tathuk pacoengah, angraeng tangkhang nuiah anghnut o sak.
19Lại, người đem theo mình những quan cai, cơ binh Ca-rít, quân hộ vệ, và cả dân sự của xứ; chúng thỉnh vua từ đền thờ của Đức Giê-hô-va xuống, đi vào đền vua bởi nơi cửa của quân hộ vệ. Giô-ách bèn ngồi trên ngôi vua.
20Prae thung ih kaminawk boih loe anghoe o; Athaliah to siangpahrang im taengah sumsen hoiah hum o boeh pongah, vangpui loe amding rue.
20Cả dân sự trong xứ đều vui mừng, và thành được bình tịnh. vả, người ta đã giết A-tha-li bằng gươm tại trong cung vua.
21Jehoash siangpahrang ah oh amtong naah, saning sarihto ni oh vop.
21Giô-ách được bảy tuổi khi người lên ngôi.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.