2 Siangpahrang
Chapter 17
Asang Khongca Bible (Eas…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Judah siangpahrang Ahaz saning hatlaihnetto haih naah, Elah capa Hoshea loe Samaria vangpui ah Israel siangpahrang ah oh, anih mah saning takawtto thung uk.
1Năm thứ mười hai đời A-cha, vua Giu-đa, thì Ô-sê, con trai Ê-la, lên làm vua Y-sơ-ra-ên, tại Sa-ma-ri; người cai trị chín năm.
2Anih loe Angraeng mikhnukah kahoih ai hmuen to sak; hmaloe ih kaom Israel siangpahrangnawk baktiah hmuen to sah ai.
2Người làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va, song chẳng bằng các vua Y-sơ-ra-ên trước người.
3Assyria siangpahrang Shalmaneser mah, Hoshea to tuk moe, tamna ah suek pacoengah, tamut to paeksak.
3Sanh-ma-na-sa, vua A-si-ri, đi lên hãm đánh Ô-sê; người bị thần phục Sanh-ma-na-sa và đóng thuế cho người.
4Hoshea loe saning kruek paek han koi tamut to paek ai, anih mah Izip siangpahrang So khaeah laicaeh patoeh moe, misatuk han pacaeng ti, tiah Assyria siangpahrang mah panoek naah, anih to naeh moe, thongim thungah pakhrak.
4Nhưng vua A-si-ri thấy Ô-sê toan mưu phản; vì Ô-sê có sai sứ giả đến Sô, vua Ê-díp-tô, và không nộp thuế cho vua A-si-ri như người hằng năm đã làm; vua A-si-ri bèn bắt người xiềng lại, và hạ ngục.
5Assyria siangpahrang loe prae boih tuk hanah angzoh tahang; Samaria vangpui ah caeh moe, vangpui to saning thumto thung takui.
5Đoạn, vua A-si-ri đi lên xâm chiếm cả xứ, đến vây Sa-ma-ri trong ba năm.
6Hoshea siangpahrang ah ohhaih saning takawtto naah, Assyria siangpahrang mah Samaria to lak moe, Israel kaminawk to Assyria ah caeh haih; nihcae to Gozan vapui taeng, Medes kaminawk ih vangpui Halah hoi Habor ah ohsak.
6Năm thứ chín đời Ô-sê, vua A-si-ri hãm lấy Sa-ma-ri, đem dân Y-sơ-ra-ên sang qua A-si-ri, lập họ ở tại Cha-la và trên bờ Cha-bo, sông của Gô-xan, cùng trong các thành nước Mê-đi.
7Israel kaminawk loe Izip prae hoi Izip siangpahrang Faro ban thung hoiah zaehoikung, angmacae Angraeng Sithaw hmaa ah zaehaih to sak o moe, kalah sithawnawk to bok o taak,
7Vả, dân Y-sơ-ra-ên đã phạm tội cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ, là Đấng đã rút họ ra khỏi xứ Ê-díp-tô, và khỏi tay hà hiếp của Pha-ra-ôn, vua Ê-díp-tô; chúng đã kính thờ các thần khác
8Israel caanawk hoi angmacae mah suek o ih, Israel siangpahrangnawk hmaa ah, Angraeng mah haek ih sithaw panoek ai kaminawk mah sak o ih atawk to pazui o.
8theo thói tục của các dân tộc mà Đức Giê-hô-va đã đuổi khỏi trước mặt dân Y-sơ-ra-ên, và theo lệ mà các vua Y-sơ-ra-ên đã định.
9Israel kaminawk loe angmacae Angraeng Sithaw mah koeh ai ih hmuen to tamquta hoiah sak o; misatoephaih imsang hoi vangpui sipaenawk to a sak o moe, avangnawk boih ah hmuensang to a sak o.
9Dân Y-sơ-ra-ên làm lén những việc bất chính nghịch cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng, xây dựng những nơi cao trong khắp các thành họ, từ tháp vọng canh cho đến thành kiên cố,
10Krang hoi Asherah krang soi ih thingnawk to maesom nui hoi thingkung tlim boi ah a suek o.
10dựng lên những trụ thờ trên các nỗng cao và dưới những cây rậm.
11Nihcae hmaa ah Angraeng Sithaw mah haek ih, Sithaw panoek ai kaminawk mah sak ih hmuen baktih toengah, hmuensang boih ah hmuihoih to thlaek o moe, Angraeng palungphuisak hanah, kahoih ai hmuen to a sak o.
11Tại trên các nơi cao, chúng xông hương y như các dân tộc mà Đức Giê-hô-va đã đuổi khỏi trước mặt họ, phạm những việc gian ác, và chọc giận Đức Giê-hô-va.
12Angraeng mah, Hae hmuennawk hae sah o hmah, tiah thuih pae; toe krang to a bok o toengtoeng vop.
12Chúng hầu việc những hình tượng mà Đức Giê-hô-va đã cấm chúng rằng: Các ngươi chớ thờ chúng nó.
13Angraeng Sithaw mah, Kahoih ai loklam to caeh o taak ah loe, nam panawk khaeah ka thuih ih dannawk boih, tahmanawk rang hoiah thuih ih ka lokpaekhaih hoi ka thuitaekhaih loknawk to pazui oh, tiah ka tamna tahmanawk patohhaih rang hoiah Israel hoi Judah kaminawk khaeah ka thuih.
13Song Đức Giê-hô-va cậy miệng các đấng tiên tri và những kẻ tiên kiến mà khuyên Y-sơ-ra-ên và Giu-đa rằng: Khá từ bỏ đường ác của các ngươi, hãy gìn giữ điều răn và luật lệ ta, tùy theo các mạng lịnh ta cậy những tiên tri, là tôi tớ ta, mà truyền cho tổ phụ các ngươi.
14Toe nihcae mah tahngai o ai; angmacae Angraeng Sithaw katang ai, ampanawk baktiah palungthin amtak o sak.
14Nhưng chúng không muốn nghe, cứng cổ mình, y như các tổ phụ của chúng không có lòng tin Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ.
15Ampanawk khaeah sak ih lokmaihaih hoi patuk ih lok to nihcae mah pahnawt o, Anih mah thuih pae ih a thuitaekhaih loknawk doeh nihcae mah tahngai pae o ai; nihcae loe avang ai krangnawk hnuk ah bang o pongah, tidoeh avang ai ah oh o; Angraeng mah nihcae taeng kaom Sithaw panoek ai kaminawk mah sak ih hmuen baktiah sah o hmah, tiah a naa; toe nihcae hnukah patom o.
15Chúng khinh bỏ các luật lệ và giao ước Ngài đã lập cùng tổ phụ họ, và những lời chứng mà Ngài đã phán với họ. Chúng đi theo các thần hư không, và trở thành hư không, bắt chước các dân tộc ở chung quanh mình, mà Đức Giê-hô-va đã cấm làm theo gương của chúng nó.
16Angmacae Angraeng Sithaw mah paek ih loknawk to pahnawt o, angmacae hanah maitaw caa krang hnetto a sak o moe, Asherah thing maeto a tling o; cakaehnawk boih to bok o moe, Baal ih tok to sak pae o.
16Chúng khinh bỏ hết thảy giới mạnh của Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, tự đúc lấy hai tượng bò con, cùng làm thần tượng A-sê-ra, thờ lạy hết thảy cơ binh trên trời, và thờ phượng Ba-anh.
17A canu hoi a capanawk to hmai angbawnhaih sak hanah patoh o moe, taqawk thacakhaih hoi angzo han koi hmuen taphonghaih, adoi hoi sak ih hmuennawk to patoh o, Angraeng palungphuisak hanah, Angraeng mikhnukah angmacae hoi angmacae to kahoih ai hmuen sak hanah ang zawh o.
17Chúng cũng đưa con trai con gái mình qua lửa, dùng tà thuật, tin bói khoa, chuyên làm điều dữ trước mặt Đức Giê-hô-va, để chọc giận Ngài.
18To pongah Angraeng loe Israel nuiah paroeai palungphui moe, nihcae to angmah hmaa hoiah takhoe king; Judah acaeng khue to a suek.
18Bởi cớ ấy, Đức Giê-hô-va rất nổi giận dữ cùng dân Y-sơ-ra-ên, xua đùa chúng khỏi trước mặt Ngài; chỉ còn lại chi phái Giu-đa mà thôi.
19Judah kaminawk loe angmacae Angraeng Sithaw mah paek ih lok to pazui o ai; Israel kaminawk caehhaih loklam to pazui o lat.
19Chính Giu-đa cũng không vâng giữ các điều răn của Giê-hô-va Đức Chúa trời của họ; bèn đi theo những lệ luật mà Y-sơ-ra-ên đã lập.
20To pongah Angraeng mah Israel kaminawk boih to pahnawt moe, nihcae to patangkhangsak; a hmaa hoiah takhoe boih ai karoek to, nihcae to parokungnawk ban ah a paek.
20Thế thì, Đức Giê-hô-va từ bỏ cả dòng dõi Y-sơ-ra-ên, làm khốn khổ họ, và phó họ vào tay các kẻ cướp giựt, cho đến phải lưu đày cách xa mặt Ngài.
21Angraeng mah Israel kaminawk to David imthung takoh thung hoiah tapraek pongah, nihcae mah Nebat capa Jeroboam to siangpahrang ah suek o; Jeroboam mah Angraeng hnukah kabang Israel kaminawk to loklam amkhraengsak, anih mah to baktih kalen parai zaehaih to saksak.
21Y-sơ-ra-ên đã phân rẽ nhà Đa-vít, tôn Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, làm vua; người quyến dụ Y-sơ-ra-ên bội nghịch Đức Giê-hô-va, và khiến cho họ phạm tội lớn.
22Israel kaminawk loe Jeroboam mah sak ih zaehaih to caeh o taak ai, pazui o toengtoeng vop.
22Dân Y-sơ-ra-ên đều đi trong hết thảy tội lỗi của Giê-rô-bô-am đã phạm, chẳng từ bỏ chút nào,
23Angraeng mah a tamna tahmaanawk patohhaih rang hoiah thuih ih lok baktih toengah, Israel kaminawk to angmah hmaa hoiah takhoe boih ai karoek to, to zaehaih to nihcae mah sak o. To pongah Israel kaminawk loe angmacae prae thung hoiah Assyria prae ah misong ah caeh o haih, vaihni ni khoek to to ah oh o.
23cho đến ngày Đức Giê-hô-va đày đuổi họ khỏi trước mặt Ngài, y như Ngài đã phán bởi miệng của các tiên tri, tôi tớ Ngài. Vậy, Y-sơ-ra-ên bị cất khỏi xứ mình, lưu đày qua A-si-ri cho đến ngày nay.
24Assyria siangpahrang mah Babylon, Kuthah, Ava, Hammath hoi Sepharviam prae ih kaminawk to hoih moe, Israel kaminawk zuengah, Samaria vangpui ah khosaksak. Nihcae mah Samaria to lak o moe, to vangpuinawk boih khosak o.
24Vua A-si-ri đem người ở Ba-by-lôn, Cu-tha, A-va, Ha-mát và Sê-phạt-va-im, đặt ở trong các thành của Sa-ma-ri, thế cho dân Y-sơ-ra-ên. Chúng chiếm lấy nước Sa-ma-ri, và ở trong các thành nó.
25To ah khosak o tangsuek naah, Angraeng to zii o ai; to pongah Angraeng mah kaipuinawk to patoeh moe, thoemto kaminawk to kaek.
25Khi chúng bắt đầu trú ngụ tại đó, thì không kính sợ Đức Giê-hô-va, nên Đức Giê-hô-va sai sư tử đến giết mấy người trong bọn chúng.
26To pongah thoemto kaminawk mah, Na patoeh moe, Samaria vangpui ah na ohsak ih kaminawk loe prae thungah kaom Sithaw to panoek o ai pongah, khenah, Sithaw mah kaipuinawk to patoeh moe, vangpui thungah kaom kaminawk to kaek boeh, tiah Assyrian siangpahrang khaeah thuih pae o.
26Người ta bèn nói với vua A-si-ri rằng: Các dân mà vua đã đem qua đặt trong các thành của Sa-ma-ri không biết lệ thờ phượng thần của xứ, vì vậy thần đó có sai sư tử đến giết họ, tại họ không biết lệ thờ lạy thần của xứ vậy.
27To pacoengah Assyria siangpahrang mah, Samaria hoiah na hoih o ih qaima maeto vangpui ah oh hanah, patoeh o let ah, anih mah to prae thungah kaom Sithaw koehhaih to patuk nasoe, tiah a naa.
27Vua A-si-ri liền truyền lịnh rằng: Trong những thầy tế lễ mà các ngươi đã bắt ở đó đem qua đây, các ngươi hãy lấy một người, dẫn về ở tại trong xứ đó đặng dạy lệ thờ lạy thần của xứ.
28To pacoengah Samaria vangpui hoiah hoih o ving ih, qaima maeto loe Bethel ah oh hanah caeh, anih mah Angraeng zit han angaih kawng to patuk.
28Aáy vậy một kẻ trong những thầy tế lễ mà chúng đã bắt ở Sa-ma-ri đem đi trở về, ở tại Bê-tên, và dạy dỗ dân sự phải thờ lạy Đức Giê-hô-va làm sao.
29Toe to ah kaom acaeng kaminawk boih loe, angmacae ohhaih ahmuen kruekah angmacae ih sithawnawk to sak o; Samaria kaminawk mah sak o ih sithawnawk to hmuensang kruekah a suek o.
29Song mỗi dân tộc đều tạo thần riêng cho mình, đặt nó trong những chùa miễu tại trên các nơi cao mà dân Sa-ma-ri đã dựng lên, tức dân tộc nào đặt thần mình trong thành nấy.
30Babylon ih kaminawk mah Sukkoth-Benoth to sak o; Kuthah ih kaminawk mah Nergal to sak o; Hummath ih kaminawk mah Ashima to sak o;
30Dân Ba-by-lôn tạo hình tượng Su-cốt-Bê-nốt; dân Cút, tạo hình tượng Nẹt-ganh; dân Ha-mát tạo hình tượng A-si-ma;
31Ava ih kaminawk mah Nibhaz hoi Tartak to sak o; Sepharvaim ih kaminawk mah loe Sepharvaim sithaw ah kaom, Adrammelek hoi Anamelek khaeah hmai angbawnhaih sak hanah a caanawk to patoh o.
31dân A-vim tạo hình tượng Níp-ca và Tạt-tác; dân Sê-phạt-va-im thiêu con cái mình trong lửa cho A-tra-mê-léc và A-na-mê-léc, hai thần của dân Sê-phạt-va-im.
32Nihcae mah Angraeng to zit o; toe angmacae ih kaminawk boih to angmacae bokhaih hmuensang ih qaima ah suek o.
32Chúng kính sợ Đức Giê-hô-va, nhưng chọn những người trong bọn mình lập làm thầy tế lễ về các nơi cao; những thầy tế lễ ấy vì chúng dâng những của tế lễ tại trong chùa miễu của các nơi cao đó.
33Nihcae mah Angraeng to zit o; toe misong ah hoih ih kaminawk mah sak ih baktih toengah, angmacae sithawnawk ih tok to a sak o.
33Các dân tộc ấy kính sợ Đức Giê-hô-va, song cũng hầu việc các thần mình, theo thói tục của những dân tộc mà họ bị dời ra khỏi đó.
34Vaihni ni khoek to canghnii ah a sak o ih hmuen to sak o vop; Angraeng to zii o ai; Israel kaminawk han paek ih loknawk, sakzong ih atawknawk doeh pazui o ai; Israel, tiah ahmin paek ih Jakob caanawk khaeah, Angraeng mah paek ih loknawk doeh pazui o ai.
34Ngày nay, chúng hãy còn làm theo thói tục cũ mình. Chúng không kính sợ Đức Giê-hô-va, chẳng vâng giữ hoặc luật lệ, hoặc thói tục, hoặc luật pháp, hay là điều răn truyền cho con cháu Gia-cốp, mà Ngài đặt tên là Y-sơ-ra-ên.
35Angraeng mah Israel kaminawk hoi lokmaihaih sak naah, nihcae khaeah, Kalah sithawnawk to bok o hmah; a hmaa ah akuep o hmah; nihcae ih tok to sah pae o hmah; angbawnhaih doeh sah o hmah;
35Đức Giê-hô-va đã lập giao ước với chúng, truyền dạy chúng rằng: Các ngươi chớ kính sợ các thần khác, chớ thờ lạy, hầu việc chúng nó, và đừng tế lễ chúng nó.
36toe thacakhaih ban hoi Izip prae thung hoiah nangcae zaehoikung to bok oh; anih khaeah akuep oh loe, anih khaeah angbawnhaih to sah oh, tiah a naa.
36Nhưng các ngươi khá kính sợ Đức Giê-hô-va, là Đấng dùng đại năng, và cánh tay giơ thẳng ra, đem các ngươi ra khỏi Ê-díp-tô; Đấng đó các ngươi phải kính sợ thờ lạy, và dâng của lễ cho.
37Nangcae han ka tarik ih, lokpaekhaih hoi sak koi daannawk, zaehhoihhaih daannawk hoi lokpaekhaihnawk to acoehaih hoi sah oh; kalah sithawnawk to bok o hmah.
37Các luật lệ, điều răn, qui tắc, và mạng lịnh mà Ngài chép cho các ngươi, các ngươi khá gìn giữ làm theo đời đời, chớ nên kính sợ các thần khác.
38Kai hoiah sak ih lokmaihaih to pahnet o hmah loe, kalah sithawnawk to bok o hmah.
38Các ngươi chẳng nên quên giao ước mà ta lập với các ngươi; chớ kính sợ các thần khác;
39Na Angraeng Sithaw khue to bok oh; to tiah ni anih mah na misa ban thung hoiah nangcae to pahlong tih, tiah lokpaekhaih to oh.
39nhưng khá kính sợ, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi, Ngài sẽ giải cứu các ngươi khỏi tay các kẻ thù nghịch.
40Toe nihcae mah tahngai pae o ai moe, canghnii ah a sak o ih hmuen to pazui o toengtoeng vop.
40Dầu vậy, các dân tộc ấy không nghe theo, nhưng còn làm theo thói tục cũ của mình.
41Hae kaminawk loe angmacae hoi a caanawk ih caa patoeng khoek to, Angraeng to bok o, toe krangnawk doeh bok o toengtoeng vop; ampanawk mah sak o ih hmuen baktih toengah vaihni ni khoek to a sak o vop.
41Như vậy, các dân tộc ấy kính sợ Đức Giê-hô-va và cũng hầu việc những hình tượng chạm của mình; tổ phụ chúng nó làm thế nào, thì con cái cháu chắt chúng nó cũng hãy còn làm thế ấy cho đến ngày nay.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.