Ma 24
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Khi Đức Chúa Jêsus ra khỏi đền thờ, đang đi, thì môn đồ đến gần để chỉ cho Ngài xem các nhà thuộc về đền thờ.
1I KO Iesu hele ana aku iwaho, haalele aku la ia i ka luakini, a hele mai la kaua poe haumana e kuhikuhi ia ia i na hale o ka luakini.
2Ngài phán rằng: Các ngươi có thấy mọi điều đó chăng? Quả thật, ta nói cùng các ngươi, đây sẽ không còn một hòn đá nào chồng trên một hòn khác mà không bị đổ xuống.
2I mai la o Iesu ia lakou, Ke ike nei anei oukou i keia mau mea a pau? He oiaio ka'u e olelo aku nei ia oukou, e pau ia mau mea i ka hoohioloia; aole e koe kekahi pohaku maluna o kekahi pohaku.
3Ngài đang ngồi trên núi ô-li-ve, môn đồ tới riêng cùng Ngài, và nói rằng: Xin Chúa phán cho chúng tôi biết lúc nào những sự đó sẽ xảy ra? và có điềm gì chỉ về sự Chúa đến và tận thế.
3I kona noho ana maluna o ka mauna Oliveta, hele malu aku la ka poe haumana io na la, i aku la, E hai mai oe ia makou, i ka manawa hea e hiki mai ai ia mau mea? Heaha hoi ka hoailona no kou hiki ana mai, a me ka hope o keia ao?
4Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Hãy giữ, kẻo có kẻ dỗ dành các ngươi.
4Olelo mai la o Iesu ia lakou i aka la, E malama ia oukou, o hoopunipuni mai hekahi ia oukou.
5Vì nhiều người sẽ mạo danh ta đến mà nói rằng: Ta là Đấng Christ; và sẽ dỗ dành nhiều người.
5No ka mea, he nui na mea e holo mai ma ko'u inoa, me ka i ana mai, Owau no ka Mesia, a he nui no ka poe e hoopunipuniia e lakou.
6Các ngươi sẽ nghe nói về giặc và tiếng đồn về giặc: hãy giữ mình, đừng bối rối, vì những sự ấy phải đến; song chưa là cuối cùng đâu.
6E lohe auanei oukou i na kaua, a me na lono no na kaua; e ao ia oukou iho, mai hopohopo; no ka mea, e hiki io mai ia mau mea a pau, aole nae ia ka hopena.
7Dân nầy sẽ dấy lên nghịch cùng dân khác, nước nọ nghịch cùng nước kia; nhiều chỗ sẽ có đói kém và động đất.
7E ku e ana kekahi lahuikanaka i kekahi lahuikanaka; a o kekahi aupuni i kekahi aupuni: a e hiki mai no na wi, a me na ahulau, a me na olai i kela wahi a i keia wahi.
8Song mọi điều đó chỉ là đầu sự tai hại.
8O keia mau mea ka hoomaka ana o na popilikia.
9Bấy giờ, người ta sẽ nộp các ngươi trong sự hoạn nạn và giết đi; các ngươi sẽ bị mọi dân ghen ghét vì danh ta.
9la manawa, e haawi lakou ia oukou e hoomainoinoia mai ai, a e pepehi mai lakou ia oukou a make; a e inainaia mai hoi oukou e na lahuikanaka a pau no ko'u inoa.
10Khi ấy cũng có nhiều kẻ sẽ sa vào chước cám dỗ, phản nghịch nhau, và ghen ghét nhau.
10Alaila hoi, he nui na mea e hihia ana; a e kumakaia aku kekahi i kekahi, e inaiua aku hoi kekahi i kekahi.
11Nhiều tiên tri giả sẽ nổi lên và dỗ dành lắm kẻ.
11E ku mai no hoi na kaula wahahee he nui loa, a e hoopunipuni aku hoi lakou i na kanaka he nui loa.
12Lại vì cớ tội ác sẽ thêm nhiều thì lòng yêu mến của phần nhiều người sẽ nguội lần.
12No ka nui ana mai o ka hewa, e malili no ke aloha o ka lehulehu.
13Nhưng kẻ nào bền chí cho đến cuối cùng, thì sẽ được cứu.
13Aka, o ka mea hoomanawanui aku a hiki i ka hopena, e ola ia.
14Tin Lành nầy về nước Đức Chúa Trời sẽ được giảng ra khắp đất, để làm chứng cho muôn dân. Bấy giờ sự cuối cùng sẽ đến.
14A e haiia'ku no keia euanelio o ke aupuni ma na wahi aukauaka a pau, i mea e ike ai na lahuikanaka a pau: alaila iho e hiki mai ka hopena.
15Khi các ngươi sẽ thấy sự gớm ghiếc tàn nát lập ra trong nơi thánh, mà đấng tiên tri Đa-ni-ên đã nói (ai đọc phải để ý),
15Aia ike oukou i ka mea ino e hooneoneo ai e ku ana ma kahi hoano, ka mea i oleloia mai e ke kaula e Daniela; (o ka mea heluhelu, e pono e hoomaopopo iho oia,)
16thì ai ở trong xứ Giu-đê hãy trốn lên núi;
16Alaila, o ka poe e noho ana ma Iudea, e holo lakou ma na kuahiwi.
17ai ở trên mái nhà, đừng xuống chuyên của cải trong nhà;
17O ka mea maluna o ka hale, mai iho iho ia e lawe i na mea oloko o kona hale.
18và ai ở ngoài ruộng, đừng trở về lấy áo mình.
18A o ka mea ma ka waena, mai hoi hou ia i hope e kii i kona kapa aahu.
19Đang lúc đó, khốn khó thay cho đàn bà có mang, và đàn bà cho con bú!
19Auwe ka poe wahine hapai, a me ka poe hanai waiu ia mau la!
20Hãy cầu nguyện cho các ngươi khỏi trốn tránh nhằm lúc mùa đông hay là ngày Sa-bát;
20E pule hoi oukou, i holo ole ai oukou i ka wa hooilo, aole hoi i ka la Sabati.
21vì lúc ấy sẽ có hoạn nạn lớn, đến nỗi từ khi mới có trời đất cho đến bây giờ chưa từng có như vậy, mà sau nầy cũng không hề có nữa.
21Alaila, e nui loa mai no ka popilikia, aohe popilikia me neia mai ke kumu mai o ka honua, aole hoi ma ia hope aku.
22Nếu những ngày ấy không giảm bớt, thì chẳng có một người nào được cứu; song vì cớ các ngươi được chọn, thì những ngày ấy sẽ giảm bớt.
22Ina e hoopokole ole ia ua mau la la, ina aole loa e ola kekahi kanaka: aka, no ka poe i waeia, e hoopokoleia ua mau la la.
23Khi ấy, nếu có ai nói với các ngươi rằng: Kìa Đấng Christ ở đây hay là: ỳ đó, thì đừng tin.
23Ina e olelo mai kekahi ia oukou ia manawa, E, eia maanei ka Media; a, aia ma o, mai manao oukou he oiaio.
24Vì nhiều christ giả và tiên tri giả sẽ dấy lên, làm những dấu lớn, phép lạ, nếu có thể được thì họ cũng đến dỗ dành chính những người được chọn.
24No ka mea, e ku ae no na Mesia wahahee, a me na kaula wahahee, a e hoike aku lakou i na hoailona nui, a me na mea kupanaha; a ina he mea hiki, ina e hoopunipuni hoi lakou i ka poe i waeia.
25Nầy, ta đã bảo trước cho các ngươi.
25Aia hoi, ua hai e au mamua ia oukou.
26Vậy nếu người ta nói với các ngươi rằng: Nầy, Ngài ở trong đồng vắng, thì đừng đi đến; nầy, Ngài ở trong nhà thì đừng tin.
26Nolaila, a i olelo mai lakou ia oukou, Aia la, ma ka waonahele oia, mai hele aku oukou ilaila: Aia hoi ia ma ke keena mehameha; mai manao oukou he oiaio.
27Vì như chớp phát ra từ phương đông, nháng đến phương tây, thì sự Con người đến sẽ cũng thể ấy.
27No ka mea, e like me ka uila i anapu mai ai, mai ka hikina mai, a hoomalamalama aku i ke komohana; pela no hoi ka hiki ana mai o ke Keiki a ke kanaka.
28Nơi nào có xác chết, thì những chim ó sẽ nhóm tại đó.
28No ka mea, i kahi e waiho ai ka heana, ilaila no e akoakoa ai na aeto.
29Sự tai nạn của những ngày đó vừa mới qua, thì mặt trời liền tối tăm, mặt trăng không sáng, các ngôi sao từ trên trời sa xuống, và thế lực của các từng trời rúng động.
29Mahope iho o ia mau la popilikia, e poeleele ana ka la, aole hoi e malamalama mai ka mahina, e haule iho hoi na hoku mai ka lani mai, a e hoonaueia na mea mana o ka lani.
30Khi ấy, điềm Con người sẽ hiện ra ở trên trời, mọi dân tộc dưới đất sẽ đấm ngực, và thấy Con người lấy đại quyền đại vinh ngự trên mây trời mà xuống.
30Alaila, e ikea mai ai ka hoailona no ke Keiki a ke kanaka ma ka lani; a e uwe na lahuikanaka a pau o ka honua, aia ike lakou i ke keiki a ke kanaka e hele mai ana maluna o na ao o ka lani, me ka mana a me ka nani nui.
31Ngài sẽ sai thiên sứ mình dùng tiếng kèn rất lớn mà nhóm lại những kẻ đã được lựa chọn của Ngài ở khắp bốn phương, từ cuối phương trời nầy cho đến tận phương kia.
31A e hoouna aku ia i kana poe anela me ka pu kani nui, a e hoakoakoa mai lakou i kona poe i waeia, mai na makani eha, a mai kela aoao o ka lani a mai keia aoao hoi
32Hãy nghe lời ví dụ về cây vả, vừa lúc nhành non, lá mới đâm, thì các ngươi biết mùa hạ gần tới.
32E ao oukou i ka olelonane no ka laau fiku; Aia opiopio na lala, a ulu ae na lau, na ike oukou, ke kokoke mai nei ke kau.
33Cũng vậy, khi các ngươi thấy mọi điều ấy, khá biết rằng Con người gần đến, Ngài đang ở trước cửa.
33Pela hoi, a ike oukou i keia mau mea a pau, alaila e ike oukou, na kokoke mai ia, aia ma ka puka.
34Quả thật, ta nói cùng các ngươi, dòng dõi nầy chẳng qua trước khi điều kia chưa xảy đến.
34Ho oiaio ka'u e olelo aku nei ia oukou, Aole e hala aku keia hanauna, a hiki e mai ua mau mea la a pau.
35Trời đất sẽ qua, nhưng lời ta nói chẳng bao giờ qua đi.
35E lilo ana ka lani a me ka honua; aka, aole loa e lilo ka'u mau olelo.
36Về ngày và giờ đó, chẳng có ai biết chi cả, thiên sứ trên trời hay là Con cũng vậy, song chỉ một mình Cha biết mà thôi.
36Aole i ike kekahi kanaka ia la a me ia hora, aole hoi na anela o ka lani; o ko'u Makua wale no.
37Trong đời Nô-ê thể nào, khi Con người đến cũng thể ấy.
37Me na la o Noa, pela hoi ka hiki ana mai o ke Keiki a ke kanaka.
38Vì trong những ngày trước nước lụt, người ta ăn, uống, cưới, gả như thường cho đến ngày Nô-ê vào tàu, -
38No ka mea, i na la mamua o ke kaiakahinalii, ai lakou a inu hoi, mare lakou a hoopalau no ka mare ana, a hiki i ka la i komo ai o Noa iloko o ka halelana;
39và người ta không ngờ chi hết cho đến khi nước lụt tới mà đùa đem đi hết thảy, -khi Con người đến cũng như vậy.
39Aole lakou i ike, a hiki mai ke kaiakahinalii, a pau loa ae la lakou i ka make: pela no hoi ka hiki ana mai o ke Keiki a ke kanaka.
40Lúc ấy, sẽ có hai người nam ở trong một đồng ruộng, một người được đem đi, còn một người bị để lại;
40Alaila, elua kanaka ma ka waena, e laweia kekahi, a e koe no kekahi.
41và có hai người nữ đang xay cối, một người được đem đi, còn một người bị để lại.
41Elua wahine e wili palaoa ana, a laweia kekahi, a e koe no kekahi.
42Vậy hãy tỉnh thức, vì các ngươi không biết ngày nào Chúa mình sẽ đến.
42Nolaila, e kiai oukou; no ka mea, aole oukou ike i ka hora e hiki mai ai ko oukou Haku.
43Hãy biết rõ, nếu người chủ nhà đã hay canh nào kẻ trộm sẽ đến, thì tỉnh thức, không để cho đào ngạch nhà mình.
43Ua ike oukou i keia, ina paha i ike ka mea hale i ka wati e hiki mai ai ka aihue, ina ua kiai ia, i wawahi ole ia'i kona hale.
44Vậy thì các ngươi cũng hãy chực cho sẵn, vì Con người sẽ đến trong giờ các ngươi không ngờ.
44Pela hoi oukou e noho ai me ka makaukau; no ka mea, i ka hora e manao ole ia'i e oukou, o hiki mai no ke Keiki a ke kanaka.
45Ai là đầy tớ trung tín và khôn ngoan, mà người chủ đặt cai trị đầy tớ mình, đặng cho đồ ăn đúng giờ?
45Owai la ke kanwa malama pono, naanao, i hoonohoia'e e kona haku i luna no kona mau ohua e haawi aku i ai na lakou i ka manawa pono.
46Phước cho đầy tớ đó, khi chủ đến thấy làm như vậy!
46E pomaikai ana ua kauwa la, ke ike mai kona haku ia ia e hana ana pela i kona hoi ana mai.
47Quả thật, ta nói cùng các ngươi, chủ sẽ đặt kẻ ấy coi sóc cả gia tài mình.
47He oiaio ka'u e olelo aku nei ia oukou, e hoonoho kela ia ia maluna o kona waiwai a pau.
48Nếu, trái lại, là một đầy tớ xấu, nó nghĩ thầm rằng: Chủ ta đến chậm,
48Aka, o ke kauwa ino la, i olelo iho iloko o kona naau, Ke hoohakalia nei kuu haku i kona hoi ana mai;
49bèn đánh kẻ cùng làm việc với mình, và ăn uống với phường say rượu,
49A ke hoomaka ia e pepehi i na hoa kauwa ona, a e ai pu a e inu pu me ka poe ona:
50thì chủ nó sẽ đến trong ngày nó không ngờ và giờ nó không biết.
50E hoi hon mai no ka haku o ua kanwa la, i ka la i kiai ole ai ia, a me ka hora i manao ole ai ia;
51Chủ sẽ đánh xé xương và định phần nó đồng với kẻ giả hình. Đó là nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng.
51A e hookaawale aku kela ia ia, a e haawi aku i kana kuleana me ka poe hookamani; ilaila ka uwe ana a me ka uwi ana o na niho.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.