Ma 23
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Bấy giờ Đức Chúa Jêsus phán cùng dân chúng và môn đồ Ngài rằng:
1A LAILA, olelo mai la o Iesu i ka poe kanaka a me kana poe haumana.
2Các thầy thông giáo và người Pha-ri-si đều ngồi trên ngôi của Môi-se.
2I mai la, Ke noho nei ka poe kakauolelo a me ka poe Parisaio ma ka noho o Mose.
3Vậy, hãy làm và giữ theo mọi điều họ đã bảo các ngươi; nhưng đừng bắt chước việc làm của họ, vì họ nói mà không làm.
3Nolaila, o na mea a pau a lakou e kauoha mai ai e malama, e malama oukou ia a e hana aku pela; aka, mai hana oukou e like me ka lakou hana ana: no ka mea, ke olelo nei lakou, aole nae e hana.
4Bọn ấy buộc những gánh nặng khó chịu, để trên vai người ta, còn mình thì không muốn động ngón tay vào.
4Ke nakinaki nei lakou i na ukana kaumaha, a he luhi hoi ke hali, a ke kau nei iluna o na hokua o na kanaka; aole nae lakou e hoopa iki aku ia mau mea me kekahi manamanalima o lakou.
5Họ làm việc gì cũng cố để cho người ta thấy, mang cái thẻ bài da cho rộng, xủ cái tua áo cho dài;
5Ke hana nei lakou i ka lakou mau hana a pau, i ikea mai ai e na kanaka. Ke hoopalahalaha nei lakou i ua apana kanawai o lakou; a ke hoonui nei hoi lakou i na lepa o ka lakou aahu.
6ưa ngồi đầu trong đám tiệc, thích ngôi cao nhất trong nhà hội;
6Ke makemake nei lakou i na wahi maikai ma na ahaaina, a me na noho kiekie ma na halehalawai;
7muốn người ta chào mình giữa chợ, và ưng người ta gọi mình bằng thầy!
7A me ka uwe alohaia'ku ma na aha kanaka, a me ke kapaia e na kanaka, E Rabi, e Rabi.
8Nhưng các ngươi đừng chịu người ta gọi mình bằng thầy; vì các ngươi chỉ có một Thầy, và các ngươi hết thảy đều là anh em.
8Aka, o oukou, mai kapaia oukou he Rabi, no ka mea, hookahi a oukou Kumu, o ka Mesia, a he poe hoahanau oukou a pau.
9Cũng đừng gọi người nào ở thế gian là cha mình; vì các ngươi chỉ có một Cha, là Đấng ở trên trời.
9Aole hoi e hoomakua aku oukou i kekahi kanaka ma ka honua nei; hookahi o oukou Makua, aia i ka lani.
10Cũng đừng chịu ai gọi mình là chủ; vì các ngươi chỉ có một Chủ, là Đấng Christ.
10Aole hoi oukou e kapaia mai na Haku, hookahi o oukou Haku, o ka Mesia.
11Song ai lớn hơn hết trong các ngươi, thì sẽ làm đầy tớ các ngươi.
11O ka mea nui iwaena o oukou, he pono e lilo ia i kauwa na oukou.
12Kẻ nào tôn mình lên thì sẽ bị hạ xuống, còn kẻ nào hạ mình xuống thì sẽ được tôn lên.
12O ka mea hookiekie ae ia ia iho, e hoohaahaaia iho no ia; a o ka mea hoohaahaa ia ia iho, e hookiekieia'e oia.
13Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi đóng nước thiên đàng trước mặt người ta; các ngươi không vào đó bao giờ, mà có ai muốn vào, thì lại ngăn trở.
13Auwe oukou, e ka poe kakauolelo a me ka poe Parisaio, na bookamani! no ka mea, ke papani nei oukou i ke aupuni o ka lani imua o na kanaka; no ka mea, aole oukou e komo ae, aole hoi oukou e ae aku e komo iloko ka poe e komo ana.
14Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi làm bộ đọc lời cầu nguyện cho dài mà nuốt nhà đàn bà góa; vì cớ đó, các ngươi sẽ bị đoán phạt nặng hơn.
14Auwe oukou, e ka poe kakauolelo a me na Parisaio, na hookamani! no ka mea, ua pau ia oukou na hale o na wahinekanemake; a ke hooloihi nei oukou i na pule i mea e ikea ai. No ia hoi, e loaa uanei ia oukou ka make nui loa.
15Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi đi khắp dưới nước trên bộ để khuyên một người vào đạo mình; và khi đã khuyên được rồi, thì các ngươi làm cho họ trở nên người địa ngục gấp hai các ngươi.
15Auwe oukou, e ka poe kakauolelo a me ka poe Parisaio, na hookamani! no ka mea, ke poaihaele nei oukou i ke kai a me ka aina, i kaana mai ai na oukou kekahi haumana; a loaa, ua hana oukou ia ia, a oi papalua kona keiki ana no Gehena mamua o ko oukou.
16Khốn cho các ngươi, là kẻ mù dẫn đường, các ngươi nói rằng: Nếu người nào chỉ đền thờ mà thề, thì không can chi; song chỉ vàng của đền thờ mà thề, thì phải mắc lời thề ấy.
16Auwe oukou, e na alakai makapo, ka i olelo, O ka hoohiki aku ma ka luakini he mea ole ia; aka, o ka mea hoohiki aku ma ke gula o ka luakini, he aie kana!
17Hỡi kẻ dại và mù, vàng, và đền thờ làm cho vàng nên thánh, cái nào trọng hơn?
17He poe naaupo a me ka makapo: heaha ka mea oi, o ke gula anei, a o ka luakini anei, ka mea e laa ai ke gula?
18Lại các ngươi nói rằng: Nếu người nào chỉ bàn thờ mà thề, thì không can chi; song chỉ của lễ trên bàn thờ mà thề, thì phải mắc lời thề ấy.
18A, o ka mea hoohiki aku ma ke kuahu, he mea ole ia; aka, o ka mea hoohiki aku ma ka mohai iluna iho, he aie kana.
19Hỡi kẻ mù kia, của lễ, và bàn thờ làm cho của lễ nên thánh, cái nào trọng hơn?
19He poe naaupo a me ka makapo: heaha ka mea oi, o ka mohai anei, a o ke kuahu anei, ka mea e laa ai ka mohai?
20Vậy thì người nào chỉ bàn thờ mà thề, là chỉ bàn thờ và cả của lễ trên bàn thờ mà thề;
20O ka mea hoohiki ma ke kuahu, oia no ka hoohiki ma ia mea a me na mea a pau maluna iho.
21người nào chỉ đền thờ mà thề, là chỉ đền thờ và Đấng ngự nơi đền thờ mà thề
21A o ka mea hoohiki aka ma ka luakini, oia no ke hoohiki aku ma ia mea, a me ka mea e noho ana iloko.
22còn ai chỉ trời mà thề, là chỉ ngôi của Đức Chúa Trời và Đấng ngự trên ngôi mà thề vậy.
22A o ka mea hoohiki ma ka lani, oia ke hoohiki ma ka nohoalii o ke Akua, a me ka mea e noho ana iluna iho.
23Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi nộp một phần mười bạc hà, hồi hương, và rau cần, mà bỏ điều hệ trọng hơn hết trong luật pháp, là sự công bình, thương xót và trung tín; đó là những điều các ngươi phải làm, mà cũng không nên bỏ sót những điều kia.
23Auwe oukou, e ka poe kakauolelo a me ka poe Parisaio, na hookamani! no ka mea, ke hookupu nei oukou i ka hapaumi o ka mineta me ka aneto a me ke kumino; a ke haalele nei i na mea nui o ke kanawai, i ka hoopono, i ke aloha a me ka hooiaio: o ka oukou mau mea keia e pono ai ke hana, aole hoi e haalele i kela.
24Hỡi kẻ mù dẫn đường, các ngươi lọc con ruồi nhỏ mà nuốt con lạc đà!
24E na alakai makapo, ke kanana nei i ka naonao, me ke ale wale iho i ke kamelo.
25Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi rửa bề ngoài chén và mâm, nhưng ở trong thì đầy dẫy sự ăn cướp cùng sự quá độ.
25Auwe oukou, e ka poe kakauolelo a me ka poe Parisaio, na hookamani! no ka mea, ke holoi nei oukou ia waho o ke kiaha a me ke pa; aka, ua piha o loko i ka mea i kaili wale ia a me ka liki ole i ka hoomanawanui.
26Hỡi người Pha-ri-si mù kia, trước hết phải lau bề trong chén và mâm, hầu cho bề ngoài cũng được sạch sẽ.
26E ka Parisaio makapo: e holoi mua oe ia loko o ke kiaha a me ke pa, i maemae pu ia me ko waho.
27Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi giống như mồ mả tô trắng bề ngoài cho đẹp, mà bề trong thì đầy xương người chết và mọi thứ dơ dáy.
27Auwe oukou, e ka poe kakauolelo a me ka poe Parisaio, na hookamani! no ka mea, ua like oukou me na halekupapau keokeo; ua ikea nae ko waho he maikai; aka, ua piha o loko i na iwikupapau a me ka pelapela.
28Các ngươi cũng vậy, bề ngoài ra dáng công bình, nhưng ở trong thì chan chứa sự giả hình và tội lỗi.
28Pela hoi oukou, ua ikea e na kanaka, he maikai mawaho; aka, ua piha o loko i ka hoopunipuni a me ka pono ole.
29Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi xây đắp mồ mả của đấng tiên tri, trau giồi mồ mả của người công bình,
29Auwe oukou, e ka poe kakauolelo a me ka poe Parisaio, na hookamani! no ka mea, ke hana nei oukou i na halekupapau no ka poe kaula, a ke hoonaui nei hoi i na halekupapau no ka poe haipule;
30và nói rằng: Nếu chúng ta ở cùng một thời với tổ phụ, thì không hùa theo người mà làm đổ máu các đấng tiên tri vậy.
30A ke olelo nei oukou, Ina makou i ola pu i ka wa o ka makou poe kupuna, aole makou i hookahe pu me lakou i ke koko o ka poe kaula.
31Aáy đó, các ngươi tự làm chứng cho mình rằng thật là con cháu những người giết các đấng tiên tri.
31Pela oukou e hoike mai nei ia oukou iho, he mamo oukou na ka poe pepehi kaula.
32Vậy thì hãy làm cho đầy dẫy cái lường của tổ phụ các ngươi!
32E hoopiha ae hoi oukou i ke ana o ko oukou poe kupuna.
33Hỡi loài rắn, dòng dõi rắn lục kia, thế nào mà tránh khỏi sự đoán phạt nơi địa ngục được?
33E ka poe nahesa, ka ohana moonihoawa, pehea la auanei oukou e pakele ai i ka make ma gehena?
34Vậy nên, nầy, ta sai những đấng tiên tri, kẻ khôn ngoan, và thầy thông giáo đến cùng các ngươi; trong những người ấy, kẻ thì các ngươi sẽ giết và đóng đinh trên cây thập tự, kẻ thì các ngươi sẽ đánh đập trong nhà hội mình, và các ngươi sẽ đuổi bắt họ từ thành nầy qua thành kia,
34Nolaila hoi, ke hoouna aku nei au ia oukou la i na kaula a me na kanaka naauao, a me na kakaoolelo: a na oukou e pepehi a e kau ma ke kea i kekahi poe o lakou; a e hahau hoi i kekahi poe o lakou ma na halehalawai; a e alualu hoi ia lakou mai keia kulanakauhale a kela kulanakauhale.
35hầu cho hết thảy máu vô tội bị tràn ra trên mặt đất, đổ về các ngươi, từ máu A-bên là người công bình cho đến máu Xa-cha-ri là con của Ba-ra-chi, mà các ngươi đã giết ở giữa khoảng đền thờ và bàn thờ.
35I hookauia maluna iho o oukou ke koko hala ole a pau i hookaheia maluna o ka honua, mai ke koko o Abela o ke kanaka pono mai, a hiki i ke koko o Zakaria ke keiki a Barakia, a oukou i pepehi ai mawaena o ka luakini a me ke kuahu.
36Quả thật, ta nói cùng các ngươi, mọi điều đó sẽ xảy đến cho dòng dõi nầy.
36He oiaio ka'u e olelo aku nei ia oukou, E kau mai ana keia mau mea a pau maluna o keia hanauna.
37Hỡi Giê-ru-sa-lem, Giê-ru-sa-lem, ngươi giết các đấng tiên tri và ném đá những kẻ chịu sai đến cùng ngươi, bao nhiêu lần ta muốn nhóm họp các con ngươi như gà mái túc con mình lại ấp trong cánh, mà các ngươi chẳng khứng!
37E Ierusalema, e Iersualema! ka mea nana i pepehi i na kaula, a i hailuku hoi i ka poe i hoounaia mai iou nei; nani kuu makemake e houluulu mai i kau poe keiki, e like me ka houluulu ana a ka mea i kana ohana keiki malalo iho o kona mau eheu; aole nae oukou i makemake mai.
38Nầy, nhà các ngươi sẽ bỏ hoang!
38Aia hoi, ua waiho neoneo ia no oukou ko oukou hale o noho ai.
39Vì, ta bảo, các ngươi sẽ không thấy ta nữa, cho đến lúc các ngươi sẽ nói rằng: Phước cho Đấng nhân danh Chúa mà đến!
39No ka mea, ke olelo aku nei au ia oukou, Aole oukou e ike hou mai ia, u, a hiki i ka wa e olelo mai ai oukou, e hoomaikaiia ka mea e hele mai ana ma ka iuoa o ka Haku.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.