Ma 26
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Vả, Đức Chúa Jêsus đã phán những lời ấy xong rồi, thì phán cùng môn đồ rằng:
1A PAU ae la keia mau olelo a pau a Iesu, i mai la ia i kana poe haumana;
2Các ngươi biết rằng còn hai ngày nữa thì đến lễ Vượt qua, và Con người sẽ bị nộp để chịu đóng đinh trên cây thập tự.
2Ua ike oukou, elua la i koe, a hiki mai ka ahaaina moliaola; a e kumakaiaia ke Keiki a ke kanaka e kaulia'i ma ke kea.
3Bấy giờ các thầy tế lễ cả và các trưởng lão trong dân nhóm lại trong tòa thầy cả thượng phẩm tên là Cai-phe;
3Alaila, hoakoakoa ae la ka poe kahuna nui a me ka poe kakauolelo, a me ka poe lunakahiko o na kanaka, ma ka hale o ke kahuna nui, o Kaiapa kona inoa,
4và bàn với nhau dùng mưu chước gì đặng bắt Đức Chúa Jêsus mà giết.
4Kukakuka ae la lakou, e lalau aku ia Iesu me ka hoopunipuni, a e pepehi ia ia a make.
5Song họ nói rằng: Không nên làm trong ngày lễ, e trong dân chúng sanh ra điều xào xạc chăng.
5Olelo ae la lakou, aole i ka wa ahaaina, o haunaele na kanaka.
6Khi Đức Chúa Jêsus ở làng Bê-tha-ni, tại nhà Si-môn là người phung,
6Aia ma Betania o Iesu ma ka hale o Simona ka lepero;
7có một người đàn bà cầm cái chai bằng ngọc trắng đựng dầu thơm quí giá lắm, đến gần mà đổ trên đầu Ngài đang khi ngồi ăn.
7Hele mai la kekahi wahine io na la, me ka ipu alabatero, ua piha i ka mea poni makamae, a ninini iho la ia maluua o kona poo i kona noho ana e ai.
8Môn đồ thấy vậy, giận mà trách rằng: Sao phí của như vậy?
8Ike ae la kana poe haumana, ukiuki iho la lakou, i aku la, No ke aha la keia hoomaunauna?
9Dầu nầy có thể bán được nhiều tiền và lấy mà thí cho kẻ nghèo nàn.
9E hiki no ke kuai lilo aku i keia mea poni i kumu nui, a e haawiia'ku ia na ka poe ilihune.
10Đức Chúa Jêsus biết điều đó, bèn phán cùng môn đồ rằng: Sao các ngươi làm khó cho người đàn bà đó? Người đã làm việc tốt cho ta;
10A ike iho la o Iesu, i mai la oia ia lakou, No ke aha la oukou e hoopilikia mai ai i ka wahine? He mea maikai kana i hana mai ai ia'u.
11vì các ngươi thường có kẻ nghèo ở cùng mình, song sẽ không có ta ở cùng luôn luôn.
11Ua mau loa ka poe ilihune me oukou, aole au e mau loa ana me oukou.
12Người đổ dầu thơm trên mình ta là để sửa soạn chôn xác ta đó.
12No ka mea, ua ninini mai kela i keia mea poni maluna iho o ko'u kino, e hoomakaukau ia'u no ke kanu ana.
13Quả thật, ta nói cùng các ngươi, khắp cả thế gian, hễ nơi nào Tin Lành nầy được giảng ra, thì cũng thuật lại việc người ấy đã làm để nhớ đến người.
13He oiaio ka'u e olelo aku nei ia oukou, Ma na wahi a pau loa o ke ao nei, e haiia'ku ai keia euanelio, ilaila e haiia'ku ai ka ia nei hana ana, i mea e kaulana ai oia.
14Bấy giờ có một người trong mười hai sứ đồ, tên là Giu-đa ỗch-ca-ri-ốt, đến tìm các thầy tế lễ cả,
14Alaila, hele aku la kekahi o ka poe umikumamalua, o Iuda Isekariota kona inea, i ka poe kahuna nui, i aku la,
15mà nói rằng: Các thầy bằng lòng trả cho tôi bao nhiêu đặng tôi sẽ nộp người cho? Họ bèn trả cho nó ba chục bạc.
15Heaha ka oukou e haawi mai ai ia'u a na'u ia e kumakaia aka ia oakou? A kaupaona mai la lakou nana i na wahi moni he kanakolu.
16Từ lúc đó, nó tìm dịp tiện để nộp Đức Chúa Jêsus.
16Ma ia hope iho, imi iho la ia i ka wa pono e kumakaia aku ai ia ia.
17Trong ngày thứ nhất ăn bánh không men, môn đồ đến gần Đức Chúa Jêsus mà thưa rằng: Thầy muốn chúng tôi dọn cho thầy ăn lễ Vượt qua tại đâu?
17I ka la mua o ka ahaaina berena hu ole, hele aku la ka poe haumana io Iesu la, i aku la ia ia, Mahea la kahi au e makemake ai e hoomakaukau makou nau e ai i ka moliaola?
18Ngài đáp rằng: Hãy vào thành, đến nhà một người kia, mà nói rằng: Thầy nói: Giờ ta gần đến; ta và môn đồ ta sẽ giữ lễ Vượt qua trong nhà ngươi.
18I mai la kela, E haele aku iloko o ke kulanakauhale i kekahi kanaka, e olelo aku ia ia, Ke i mai nei ke Kumu, Ua kokoke mai nei kuu manawa; he pono e malama au me ka'u mau haumana i ka moliaola ma kou hale.
19Môn đồ làm y như lời Đức Chúa Jêsus đã dạy mà dọn lễ Vượt qua.
19Hana aku la ka poe haumana e like me ka Iesu kauoha ana mai ia lakou, a hoomakaukau iho la i ka moliaola.
20Đến tối, Ngài ngồi ăn với mười hai sứ đồ.
20Ahiahi ae la, noho iho la ia e ai me ka umikumamalua.
21Khi đang ăn, Ngài phán rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi rằng có một người trong các ngươi sẽ phản ta.
21A i ka ai ana a lakou, i mai la kela, He oiaio ka'u e olelo aku nei ia oukou, e kumakaia auanei kekahi o oukou nei ia'u.
22Các môn đồ lấy làm buồn bực lắm, và lần lượt hỏi Ngài rằng: Lạy Chúa, có phải tôi không? Ngài đáp rằng:
22A kaumaha loa iho la lakou, ninau pakahi aku la lakou ia ia, E ka Haku, owau anei?
23Kẻ nào để tay vào mâm với ta, ấy là kẻ sẽ phản ta.
23Olelo mai la ia, i mai la, O ka mea e lalau pu ana me au i ka lima ma ke pa, oia ke kumakaia ia'u.
24Con người đi, y theo lời đã chép về Ngài; song khốn nạn thay cho kẻ phản Con người! Thà nó chẳng sanh ra thì hơn!
24E hele aku ana ke Keiki a ke kanaka, e like me ka mea i palapalaia nona; auwe hoi ke kanaka nana e kumakaia ke Keiki a ke kanaka! pomaikai ua kanaka la, ina aole i hauauia mai ia.
25Giu-đa là kẻ phản Ngài cất tiếng hỏi rằng: Thưa thầy, có phải tôi chăng? Ngài phán rằng: Thật như ngươi đã nói.
25Alaila, olelo aku la o Iuda nana ia i kumakaia ku, i aku la, E Rabi, owau anei ia? I mai la kela ia ia, Oia kau i olelo mai.
26Khi đang ăn, Đức Chúa Jêsus lấy bánh, tạ ơn rồi, bẻ ra đưa cho môn đồ mà rằng: Hãy lấy ăn đi, nầy là thân thể ta.
26I ka lakou ai ana, lalau iho la o Iesu i ka berena, hooalohaloha aku la ia, wawahi iho la, a haawi mai la na ka poe haumana, mai la, E lawe oukou, e ai; o ko'u kino keia.
27Ngài lại lấy chén, tạ ơn rồi, đưa cho môn đồ mà rằng: Hết thảy hãy uống đi;
27Lalau iho la hoi oia i ke kiaha, hooalohaloha aku la, haawi mai la ia lakou, i mai la, E inu oukou a pau i keia;
28vì nầy là huyết ta, huyết của sự giao ước đã đổ ra cho nhiều người được tha tội.
28No ka mea, o ko'u koko keia no ke kauoha hou, i hookaheia no na mea he nui loa, i mea e kalaia'i na hala.
29Ta phán cùng các ngươi, từ rày về sau, ta không uống trái nho nầy nữa, cho đến ngày mà ta sẽ uống trái nho mới cùng các ngươi ở trong nước của Cha ta.
29Ke olelo aku nei au ia oukou, aole au e inu hou i ko ka huawaina, a hiki aku i ka la e inu pu ai au me oukou he waina hou iloko o ke aupuni o ko'u Makua.
30Khi đã hát thơ thánh rồi, Đức Chúa Jêsus và môn đồ đi ra mà lên núi Ô-li-ve.
30Himeni ae la lakou, alaila hele aku la lakou ma ka mauna Oliveta.
31Ngài bèn phán rằng: Đêm nay các ngươi sẽ đều vấp phạm vì cớ ta, như có chép rằng: Ta sẽ đánh kẻ chăn chiên, thì chiên trong bầy sẽ bị tan lạc.
31Alaila, olelo mai la o Iesu ia lakou, i keia po, e hihia auanei oukou a pau no'u; no ka mea, ua palapalaia, E hahau ana au i ke Lahuhipa, a e pau hoi ka ohana hipa i ka puehu.
32Song sau khi ta sống lại rồi, ta sẽ đi đến xứ Ga-li-lê trước các ngươi.
32Aka, mahope iho o kuu ala hou ana, e hele aku no au mamua o oukou i Galilaia.
33Phi-e-rơ cất tiếng thưa rằng: Dầu mọi người vấp phạm vì cớ thầy, song tôi chắc không bao giờ vấp phạm vậy.
33Olelo aku la o Petero ia ia, i aku la, Ina e hihia lakou nei a pau nou, aole loa au g hihia,
34Đức Chúa Jêsus phán rằng: Quả thật, ta nói cùng ngươi, chính đêm nay, trước khi gà gáy, ngươi sẽ chối ta ba lần.
34I mai la o Iesu ia ia, He oiaio ka'u e olelo aku nei ia oe, i keia po, mamua mai o ke ooo ana o ka mea, e pakolu kau hoole ana mai ia'u.
35Phi-e-rơ thưa rằng: Dầu tôi phải chết với thầy đi nữa, tôi chẳng chối thầy đâu. Hết thảy môn đồ đều nói y như vậy.
35I aku la o Petero, Ina e make pu au me oe, aole loa au e hoole aku ia oe. Pela hoi i olelo aku ai na haumana a pau.
36Rồi Đức Chúa Jêsus cùng môn đồ đi đến một chỗ kêu là Ghết-sê-ma-nê. Ngài phán rằng: Hãy ngồi đây đợi ta đi cầu nguyện đằng kia.
36Alaila, hele aku la o Iesu me lakou ma kekahi wahi o Gelesemane ka inoa; i mai la ia i ka poe haumana, E noho iho oukou maauei, a hele aku au e pule ma o.
37Đoạn, Ngài bèn đem Phi-e-rơ và hai người con của Xê-bê-đê đi với mình, tức thì Ngài buồn bực và sầu não lắm.
37Lawe aku la oia ia Petero a me na keiki elua a Zebedaio, hoomaka iho la ia e luuluu iho, a me ke kaumaha.
38Ngài bèn phán: Linh hồn ta buồn bực cho đến chết; các ngươi hãy ở đây và tỉnh thức với ta.
38Alaili, i mai la oia ia lakou, Ua kaumaha loa kuu uhane e like me ka make; e noho iho oukou maanei, a e kiai pu me au.
39Rồi Ngài bước tới một ít, sấp mặt xuống đất mà cầu nguyện rằng: Cha ơi! nếu có thể được, xin cho chén nầy lìa khỏi Con! Song không theo ý muốn Con, mà theo ý muốn Cha.
39Hele iki aku la ia, moe iho la kona alo ilalo, pule aku la ia, i aku la, E ko'u Makua e, ina paha he mea hiki ia, e lawe aku oe i keia kiaha mai o'u aku nei; aka hoi, aia i kou makemake, aole i ko'u.
40Kế đó, Ngài trở lại với môn đồ, thấy đang ngủ, thì Ngài phán cùng Phi-e-rơ rằng: Thế thì các ngươi không tỉnh thức với ta trong một giờ được!
40Hoi mai la ia i ua mau haumana la, a loaa iho la lakou e hiamoe ana; i mai ia ia Petero, Pela no anei, aole e hiki ia oukou ke kiai pu me au i hookahi hora?
41Hãy thức canh và cầu nguyện, kẻo các ngươi sa vào chước cám dỗ; tâm thần thì muốn lắm, mà xác thịt thì yếu đuối.
41E kiai oukou, e pule hoi, o lilo oukou i ka hoowalewaleia mai; ua oluolu nae ka naau, aka o ke kino, ua nawaliwali ia.
42Ngài lại đi lần thứ hai, mà cầu nguyện rằng: Cha ơi! nếu chén nầy không thể lìa khỏi Con được mà Con phải uống thì xin ý Cha được nên.
42Hele hou aku la ia, ka lua ia o ka hele ana; pule aka la ia, i aku la, E ko'u Makua, ina paha aole ia he mea hiki ke laweia'ku keia kiaha mai o'u aku nei, i inu ole au, ina no e hanaia kou makemake.
43Ngài trở lại nữa, thì thấy môn đồ còn ngủ; vì mắt họ đã đừ quá rồi.
43Hoi hou mai la ia, a loaa hou iho la lakou e hiamoe ana; no ka mea, ua luluhi iho ko lakou mau maka.
44Đoạn, Ngài bỏ mà lại đi cầu nguyện lần thứ ba, và lặp xin như lời trước.
44Waiho mai la ia ia lakou, hele hou aku la, o ke kolu keia o ka pule ana, ma kela olelo hookahi no.
45Rồi Ngài đi đến với môn đồ, mà phán rằng: Bây giờ các ngươi ngủ và nghỉ ngơi ư! Nầy, giờ đã gần tới, Con người sẽ bị nộp trong tay kẻ có tội.
45Alaila, hele mai la ia i kana poe haumana, i mai la ia lakou, E hiamoe nai aku oukou, a e hoomaha iho: aia hoi, ke kokoke mai nei ka hora, a e kamakaiaia'na ke Keiki a ke kanaka a lilo i na lima o ka poe hewa.
46Hãy chờ dậy, đi hè, kìa kẻ phản ta đến kia.
46E ala mai, e haele kakou; eia ae ua kokoke mai nei ka mea nana au i kumakaia.
47Khi Ngài còn đang phán, xảy thấy Giu-đa là một người trong mười hai sứ đồ đến với một bọn đông người cầm gươm và gậy, mà các thầy tế lễ cả và các trưởng lão trong dân đã sai đến.
47A i kana olelo ana, aia hoi, hele mai la o Iuda, kekahi o ka poe umikumamalua, me ia pa ka poe kanaka he nui, me na pahikaua a me na newa, i hoounaia mai o na kahana nui a me na lunakahiko
48Đứa phản Ngài đã trao cho bọn đó dấu nầy: Người nào mà tôi sẽ hôn, ấy là người đó, hãy bắt lấy.
48O ka mea nana ia i kumakaia, haawi aku la ia i hoailona ia lakou, i aku la, O ka mea a'u e honi aku ai, oia no ia, e hoopaa oukou ia ia.
49Tức thì Giu-đa đến gần Đức Chúa Jêsus mà rằng: Chào thầy! Rồi hôn Ngài.
49A hele pololei aku la ia io Iesu la, i aku la, Aloha oe, e Rabi, a honi aku la ia ia.
50Nhưng Đức Chúa Jêsus phán cùng nó rằng: Bạn ơi! vậy thì vì việc nầy mà ngươi đến đây sao? Rồi chúng nó đến gần tra tay bắt Đức Chúa Jêsus.
50I mai la o Iesu ia ia, E ka hoalauna, heaha kau i hele mai nei? Alaila hele aku la lakou, a kau aku la i na lima malana o Iesu, a hoopaa iho la ia ia.
51Và nầy, có một người trong những người ở với Đức Chúa Jêsus giơ tay rút gươm ra, đánh đầy tớ của thầy cả thượng phẩm, chém đứt một cái tai của người.
51Aia hoi, o kekahi o ka poe me Iesu, lalau iho la kona lima i kana pahikana, unuhi ae la, a hahau aku la i ke kauwa a ke kaluna nui, a old aku la i kona pepeiao.
52Đức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Hãy nạp gươm vào vỏ; vì hễ ai cầm gươm thì sẽ bị chết về gươm.
52Alaila i mai la o Iesu ia ia, E hoihoi oe i ka pahikaua i kona wahi: no ka mea, o ka poe lalau i ka pahikaua, o make no lakou i ka pahikaua.
53Ngươi tưởng ta không có thể xin Cha ta lập tức cho ta hơn mười hai đạo thiên sứ sao?
53Ke manao nei anei oe, e hiki ole ia'u ano ke kahea aku i ko'a Makua, a e hoouna mai no ia io'u nei i na legeona anela he umikumamalua a keu aku?
54Nếu vậy, thế nào cho ứng nghiệm lời Kinh Thánh đã chép rằng việc nầy tất phải xảy đến?
54Aka, pehea la hoi e hookoia'I ka Palapala, e i mai ana, e hanaia keia mau mea?
55Lúc bấy giờ, Đức Chúa Jêsus phán cùng chúng rằng: Các ngươi đem gươm và gậy đến mà bắt ta, khác nào như ta là kẻ cướp. Ta thường ngày ngồi trong đền thờ và giảng dạy tại đó, mà các ngươi không bắt ta.
55Ia hora no, olelo aka la Iesu i ka poe kanaka, Ke hele mai nei anei oukou iwaho nei me na pahikaua a me na newa e lalau mai ia'u, e like me ka lalau ana i ka powa? Ua noho pu au me oukou i kela la i keia la e ao ana iloko o ka luakini aole nae oukou i lalau mai ia'u.
56Nhưng mọi điều ấy phải xảy đến, hầu cho những lời các đấng tiên tri đã chép được ứng nghiệm. Khi ấy, hết thảy môn đồ bỏ Ngài mà trốn đi.
56Ua hanaia keia mau mea a pau i ko ai na palapala a ka poe kaula. Alaila, haalele iho la na haumana a pau ia ia, a holo aku la.
57Những kẻ đã bắt Đức Chúa Jêsus đem Ngài đến nhà thầy cả thượng phẩm Cai-phe, tại đó các thầy thông giáo và các trưởng lão đã nhóm lại.
57A o ka poe nana Iesu i lalau aku, alakai aku la lakou ia ia io Kaiapa la ke kahana nui, kahi i hoakoakoaia'i ka poe kakauolelo a me na lunakahiko.
58Phi-e-rơ theo Ngài xa xa cho đến sân của thầy cả thượng phẩm, vào ngồi với các kẻ canh giữ đặng coi việc ấy ra làm sao.
58Ukali mamao aku la o Petero ia ia, a hiki i ka pahale o ke kahuna nui: a komo aku la ia iloko, noho pu iho la me ka poe ilamuku e ike i ka hope.
59Bấy giờ các thầy tế lễ cả và cả tòa công luận kiếm chứng dối về Ngài, cho được giết Ngài.
59Imi aku la ka poe kahuna nui me na lunakahiko, a me ka ahalonakanawai a pau i mea hoike wahahee no Iesu i make ai oia;
60Dầu có nhiều người làm chứng dối có mặt tại đó, song tìm không được chứng nào cả. Sau hết, có hai người đến,
60Aole nae i loaa. He nui no hoi na mea hoike wahahee i hele mai, aole hoi i loaa, Mahope iho hele mai la elua mau mea hoike wahahee,
61nói như vầy: Người nầy đã nói Ta có thể phá đền thờ của Đức Chúa Trời, rồi dựng lại trong ba ngày.
61I mai la, Ua olelo mai oia nei, E hiki no ia'u ke wawahi iho i ka luakini o ke Akua, a e hana hou au ia a paa i na la ekolu.
62Thầy cả thượng phẩm bèn đứng dậy mà nói với Ngài rằng: Những người nầy làm chứng mà kiện ngươi, ngươi không thưa lại gì sao?
62Ku ae la ke kahuna nui, i mai la ia ia, Aole anei oe e olelo iki mai? Heaha ka laua nei i hoike mai ai nou?
63Nhưng Đức Chúa Jêsus cứ làm thinh. Thầy cả thượng phẩm lại nói với Ngài rằng: Ta khiến ngươi chỉ Đức Chúa Trời hằng sống mà thề, hãy nói cho chúng ta, ngươi có phải là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời chăng?
63Aole o Iesu i ekemu ae. Olelo mai la ke kahuna nui ia ia, i mai la, Ke ninau pono aku nei au ia oe ma ke Akua ola, e hai mai oe ia makou, o oe anei ka Mesia, ke Keiki a ke Akua?
64Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Thật như lời; vả lại, ta nói cùng các ngươi, về sau các ngươi sẽ thấy Con người ngồi bên hữu quyền phép Đức Chúa Trời, và ngự trên mây từ trời mà xuống.
64Olelo aku la o Iesu, Oia kau i olelo mai. A ke olelo aku nei hoi au ia oukou, mahope aku nei, e ike no oukou i ke keiki a ke kanaka e noho ana ma ka lima akau o ka Mea mana, a e hele mai ana maluna o na ao o ka lani.
65Thầy cả thượng phẩm bèn xé áo mình mà nói rằng: Nó đã nói phạm thượng; chúng ta còn cần gì người làm chứng nữa sao? Các ngươi vừa nghe lời phạm thượng đó, thì nghĩ làm sao?
65Alaila haehae iho la ke kahuna nui i kona aahu, i ne la, Ke olelo hoino wale nei oia nei; pahea la e pono ai kakou i na mea ikemaka hou? Aia hoi, ua loho iho nei oukou i kana olelo hoino aaa.
66Chúng trả lời rằng: Nó đáng chết!
66Heaha ko oukou manao? I mai la lakou, Ua hewa ia e make.
67Họ bèn nhổ trên mặt Ngài, đấm Ngài, lại có kẻ vả Ngài,
67Alaila, kuha aku la lakou i kona maka, a kui aku la ia ia, a papai aku la kekahi poe ia ia me ka poho lima,
68mà nói rằng: Hỡi Đấng Christ, hãy nói tiên tri đi; cho chúng ta biết ai đánh ngươi.
68I aku la, E ka Mesia, e koho mai oe ia makou, nawai oe i papai aku?
69Bấy giờ Phi-e-rơ vẫn ngồi ngoài sân. Có một người đầy tớ gái đến gần, mà nói cùng người rằng: Ngươi cũng là kẻ ở với Jêsus, người Ga-li-lê.
69Noho iho la o Petero iwaho ma ka pahale; a hele mai la kekahi kaikamahine io na la, i mai la, O oe no hoi kekahi mo Iesu no Galilaia.
70Song Phi-e-rơ chối trước mặt chúng mà rằng: Ta không hiểu ngươi nói chi.
70Hoole aku la ia imua o lakou a pau, i aku la, Aole au ike i kau mea e olelo mai nei.
71Khi đi ra ngoài cửa, lại có một đầy tớ gái khác thấy người, bèn nói cùng kẻ ở đó rằng: Người nầy cũng ở với Jêsus, người Na-xa-rét.
71Hele aku la ia iwaho ma ka ipuka, ike mai la kekahi kaikamahine e ae ia ia, a hai aku la ia lakou ilaila, Oia nei no hoi kekahi me Iesu no Nazareta.
72Song Phi-e-rơ lại chối và thề rằng: Ta chẳng hề biết người ấy.
72Hoole hou aku la ia me ka hoohiki ino, Aole au ike i ua kanaka la.
73Một chặp nữa, những kẻ ở gần đó đến gần nói với Phi-e-rơ rằng: Chắc thật, ngươi cũng thuộc về đảng ấy, vì tiếng nói của ngươi khai ngươi ra.
73Mahope iho, hele mai la ka poe e ku ana ilaila, i mai la ia Petero, Oiaio no, o oe kekahi o lakou, no ka mea, ke hoike mai nei kau olelo ia oe iho.
74Người bèn rủa mà thề rằng: Ta không biết người đó đâu! Tức thì gà gáy.
74Alaila, hoomaka iho la ia e hailiili a me ka hoohiki ino, i aku la, Aole au i ike ia kanaka. A ooo koke iho la ka mea.
75Phi-e-rơ nhớ lại lời Đức Chúa Jêsus đã phán rằng: Trước khi gà gáy, ngươi sẽ chối ta ba lần. Đoạn, người đi ra và khóc lóc cách đắng cay.
75A hoomanao iho la o Petero i ka mea a Iesu i olelo mai ai ia ia, Mamua mai o ke ooo ana o ka mea, e pakolu no kau hoole ana mai ia'u. Hele aku la ia iwaho, a uwe walania iho la ia.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.