Ai 3
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Ta là người đã thấy khốn khổ bởi gậy thạnh nộ của Ngài.
1O WAU no ke kanaka i ike i ka popilikia, Malalo o ka laau o kona ukinki.
2Ngài đã dắt ta và khiến ta bước đi trong tối tăm, chẳng bước đi trong sáng láng.
2Ua alakai oia ia'u, a ua lawe mai ia'u iloko o ka pouli, Aole iloko o ka malamalama.
3Chắc Ngài trở tay cả ngày nghịch cùng ta nhiều lần.
3He oiaio, ua huli ku e mai oia ia'u, Ua huli oia i kona lima e ku e ia'u a pau ka la.
4Ngài đã làm hao mòn thịt và da, đã bẻ gãy xương ta,
4Ua hoopau oia i ko'u io, a me ko'u ili; Ua uhai oia i ko'u mau iwi.
5Đã xây đắp nghịch cùng ta, vây ta bằng mật đắng và sự nhọc nhằn,
5Ua kukulu ku e mai oia ia'u, Ua hoopuni mai ia'u i ka awaawa, a me ke kaumaha.
6Khiến ta ở trong nơi tối tăm, như người đã chết từ lâu đời.
6Ua hoonoho mai oia ia'u ma na wahi pouli, E like me ka poe i make i ka, wa kahiko.
7Ngài đã bao bọc ta bằng tường, mà không cho ra; lại làm cho nặng xiềng ta.
7Ua hoopuni mai oia ia'u i ka pa, i ole au e puka iwaho; Ua hana oia i ko'u kaula keleawe a kaumaha.
8Khi ta kêu la và xin cứu, Ngài bịt tai chẳng nghe lời cầu nguyện;
8I ka wa a'u e kahea aku ai, a nonoi aku, Pani mai la oia i ka'u pule ana.
9Lấy những đá đẽo lấp lối ta; Ngài đã làm cho đường nẻo ta quanh quẹo.
9Ua hoopuni mai oia ia'u me na pohaku i kalaiia; Ua hookeekee oia i ko'u mau alanui.
10Ngài đối với ta như gấu rình rập, như sư tử nơi kín đáo;
10Ua like oia ia'u me ka bea e hoohalua ana, Me he liona la hoi ma na wahi malu.
11Khiến ta lạc đường và vồ xé ta, cho ta phải sầu não.
11Ua kapae oia i ko'u mau aoao, ua haehae mai ia'u; Ua hoolilo mai oia ia'u i mehameha.
12Ngài đã giương cung và chọn ta làm tròng cho tên Ngài.
12Ua hoolena oia i kona kakaka, Ua kau oia ia'u me he hoailona la no ka pua.
13Ngài đã khiến tên trong bao Ngài vào trái cật ta:
13Ua hookomo mai oia i kona mau pua iloko o ko'u opu.
14Ta làm trò cười cho cả dân ta, họ lấy ta làm bài hát cả ngày.
14He mea akaaka no wau i ko'u poe kanaka a pau; O ko lakou mele akaaka, a pau ka la.
15Ngài đã cho ta đầy dẫy sự đắng cay, cho ta no nê bằng ngải cứu.
15Ua hoomaona mai oia ia'u i na mea awaawa, Ua hooona mai oia ia'u i ka laau awahia.
16Ngài đã lấy sỏi bẻ răng ta; vùi ta vào trong tro.
16Ua uhai oia i ko'u mau niho i na iliili, Ua uhi mai oia ia'u i ka lehu.
17Ngài khiến hồn ta xa sự bình an, ta đã quên phước lành.
17Ua kipaku mai oe i ko'u uhane mai ka maiu aku; Poina hoi ia'u ka pomaikai.
18Ta rằng: Hết sức mạnh ta, dứt lòng trông đợi Đức Giê-hô-va.
18I iho la au, Ua hookiia kuu ikaika, A me ka laua ana o kuu manao, mai Iehova mai;
19Hãy nhớ đến sự hoạn nạn khốn khổ ta, là ngải cứu và mật đắng.
19E manao ana hoi au i ko'u popilikia a me ko'u eha, I ka laau awaawa, a me ka laau make.
20Hồn ta còn nhớ đến, và hao mòn trong ta.
20Ke manao nui nei ko'u uhane ia mea, Me ke kulou iho iloko o'u.
21Ta nhớ lại sự đó, thì có sự trông mong:
21Ke hoihoi mai nei au i keia iloko o ko'u naau, A nolaila, ua laua kuu manao.
22Aáy là nhờ sự nhân từ Đức Giê-hô-va mà chúng ta chưa tuyệt. Vì sự thương xót của Ngài chẳng dứt.
22No ka lokomaikai o Iehova, aole kakou i anaiia; No ka pau ole hoi o kona aloha.
23Mỗi buổi sáng thì lại mới luôn, sự thành tín Ngài là lớn lắm.
23He hou mai no i na kakahiaka a pau; Ua nui loa no kou oiaio.
24Hồn ta nói: Đức Giê-hô-va là cơ nghiệp ta, nên ta để lòng trông cậy nơi Ngài.
24O Iehova no ko'u kuleana, wahi a kuu uhane, Nolaila e lana'i kuu manao ia ia.
25Đức Giê-hô-va ban sự nhân từ cho những kẻ trông đợi Ngài, cho linh hồn tìm cầu Ngài.
25Ua maikai o Iehova i ka poe kakali ia ia, I ka uhane hoi i imi aku ia ia.
26Thật tốt cho người trông mong và yên lặng đợi chờ sự cứu rỗi của Đức Giê-hô-va.
26He mea maikai ke lana ka manao, no ka hoolaia mai e Iehova, me ka ekemu ole hoi.
27Thật tốt cho người mang ách lúc trẻ thơ.
27He mea maikai i ke kanaka ke lawe i ka auamo i kona wa opiopio.
28Phải, nó phải ngồi một mình và làm thinh, vì Ngài đã gán ách trên mình.
28Ke noho mehameha ia me ka ekemu ole, No ka mea, [na ke Akua no] i kau ia mea maluna ona.
29Nó khá để miệng trong bụi đất! hoặc giả sẽ có sự trông mong.
29Ke waiho hoi ia i kona waha ma ka lepo, Ina paha e loaa ia ia ka laua o ka manao.
30Nó khá đưa má ra cho kẻ vả, khá chịu đầy nhuốc nhơ.
30Ke haawi no hoi oia i kona papalina i ka mea nana ia e hahau; Ke hoopihaia oia i ka hoowahawahaia.
31Vì Chúa chẳng hề bỏ cho đến đời đời.
31Aole nae e kipaku mau loa aku o ka Haku;
32Dầu Ngài đã làm cho lo buồn, còn sẽ thương xót theo sự dư dật của lòng nhân từ Ngài;
32Ina e hookaumaha mai oia, e aloha mai no ia, E like me ka nui o kona lokomaikai.
33Vì ấy là chẳng phải bổn tâm Ngài làm cho con cái loài người cực khổ và buồn rầu.
33Aole no kona makemake ia e hookaumaha mai ai, A hoeha i na keiki a kanaka.
34Khi người ta giày đạp mọi kẻ tù trong đất,
34E hahi malalo iho o kona mau wawae, I na mea pio a pau o ka honua,
35Khi uốn cong lý đoán của người trước mặt Đấng Rất Cao,
35E hoohuli ae i ka pono o ke kanaka, Mai ka maka ae o ka Mea kiekie,
36Khi điên đảo ai trong sự xét đoán, thì Chúa chẳng ưng chịu.
36E hana kekee i ke kanaka i kona hookolokoloia, Aole i apono mai ka Haku ia mau mea.
37Nếu chẳng phải Chúa truyền lịnh, ai hay nói ra và sự ấy được thành?
37Owai ka mea nana e olelo, a ko no, Ke kauoha ole mai ka Haku?
38Há chẳng phải từ miệng Đấng Rất Cao ra tai họa và phước lành?
38Mai ka waha mai o ka Mea kiekie, Aole i puka mai ka hewa, a me ka maikai,
39Cớ sao người đang sống phàn nàn vì chịu hình phạt về tội lỗi mình?
39No ke aha la e ohumu ai ke kanaka e ola ana, O ke kanaka hoi no kona hoopaiia?
40Chúng ta hãy xét và thử đường mình, trở về cùng Đức Giê-hô-va.
40E huli kakou i ke ano o ko kakou mau aoao, E hoao hoi, a e hoi hou aku ia Iehova.
41Chúng ta hãy giơ lòng và tay lên đến Đức Chúa Trời trên trời.
41E hapai kakou i ko kakou mau naau a me na lima, I ke Akua iloko o ka lani.
42Chúng tôi đã phạm phép, đã bạn nghịch; Ngài đã chẳng dung thứ!
42Ua hana hewa aku makou, a na kipi, Aole no hoi oe i kala mai.
43Ngài lấy giận che mình và đuổi theo chúng tôi, giết lát chúng tôi, chẳng thương xót.
43Ua uhi mai oia ia makou i ka huhu, a ua hoomaau mai; Ua pepehi mai oe, aole i aloha mai.
44Ngài ẩn mình trong mây, đến nỗi chẳng lời cầu nguyện nào thấu qua được.
44Ua uhi no oe ia oe iho i ke ao, I komo ole aku ai ka pule.
45Ngài làm chúng tôi ra của bỏ, ra đồ rác rến trong dân sự.
45Ua hoonoho oe ia makou i lepo i kahiliia. A i mea i hoowahawahaia iwaena o na kanaka.
46Mọi kẻ nghịch thù hả miệng rộng nghịch cùng chúng tôi.
46Ua hamama ku e mai ia makou na waha a pau o ko makou poe enemi.
47Chúng tôi đã mắc sự sợ hãi, hầm hố, hủy diệt, và hư hại.
47Eia no imua o makou, ka makau a me ka lua, O ka lukuia, a me ke anaiia.
48Mắt tôi chảy dòng nước, vì gái dân tôi mắc diệt vong.
48Ke kahe nei na muliwai ma ko'u mau maka, No ke anaiia o ke kaikamahine o ko'u poe kanaka.
49Mắt tôi tuôn nước mắt, không thôi cũng không ngớt,
49Ko kulu nei no ko'u maka, aole hooki, Aole hoi i hoomaha,
50Cho đến chừng nào Đức Giê-hô-va đoái xem, từ trên trời ngó xuống.
50A nana mai o Iehova, a ike, mai ka lani mai.
51Mắt tôi làm khổ linh hồn tôi, vì mọi con gái của thành tôi.
51Ke hoeha ko'u maka i ko'u naau, no na kaikamahine a pau o ko'u kulanakauhale.
52Những kẻ vô cớ thù nghịch tôi đã đuổi tôi như đuổi chim.
52Me he manu la i hahai hala ole mai ai ko'u poe enemi ia'u me ka ikaika.
53Họ muốn giết tôi nơi ngục tối, và ném đá trên tôi.
53Ua hooki lakou i ko'u ola ma ka lua, Ua hoolei mai i ka pohaku maluna o'u.
54Nước lên ngập đầu tôi, tôi nói: Ta phải chết mất!
54Kahe ae la na wai maluna o kuu poo, Alaila, olelo iho la au, Ua hookiia mai au.
55Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi từ nơi ngục tối rất sâu kêu cầu danh Ngài.
55Kahea aku la au i kou inoa, o Iehova, Mailoko ae o ka lua hohonu.
56Ngài chúng con đã nghe tiếng tôi, xin đừng bịt tai khỏi hơi thở và lời kêu van tôi.
56Ua lohe no oe i ko'u leo; Mai huna oe i kou pepeiao, i ko'u hanu ana, a me ko'u kahea ana.
57Ngày tôi cầu Ngài, Ngài đã đến gần tôi, đã phán cùng tôi: Chớ sợ hãi chi!
57Hookokoke mai no oe i ka la a'u i kahea aku ai la oe; I mai la hoi oe, Mai makau.
58Hỡi Chúa, Ngài đã đối nại việc hồn tôi, là Đấng chuộc mạng tôi.
58E ka Haku, ua kokua mai oe ia'u i ka hoopiiia o kuu uhane; Nau no i hoolapanai i ko'u ola.
59Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài đã thấy người ta hiếp đáp tôi: xin đoán xét việc tôi!
59E Iehova, ua ike no oe i ko'u hookaumahaia, Nau no e hooponopono i ko'u hihia.
60Chúng nó báo thù, lập mưu hại tôi, thì Ngài đã thấy hết.
60Ua ike no oe i ko lakou hoomaau ana a pau, A me ko lakou mau manao ku e ia'u a pau.
61Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài đã nghe chúng nó sỉ nhục, bày mọi mưu chước nghịch cùng tôi.
61E Iehova, ua lohe no oe i ko lakou hoowahawaha ana, A me ko lakou mau manao ku e ia'u a pau:
62Những môi miếng của kẻ dấy nghịch cùng tôi và mưu kế lập ra hại tôi cả ngày.
62I na olelo a ka poe i ala ku e mai ia'u, A me ko lakou imi ku e ia'u a pau ka la.
63Xin Ngài xem sự ngồi xuống và đứng dậy của chúng nó; tôi là bài hát của chúng nó.
63E nana i ko lakou noho ana ilalo, a me ko lakou ku ana iluna, owau no ko lakou mele akaaka.
64Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài sẽ báo trả chúng nó tùy theo việc tay chúng nó làm.
64E hoihoi oe i ka hoopai ana maluna o lakou, e Iehova, E like hoi me ka hana ana a ko lakou mau lima.
65Ngài sẽ ban lòng cứng cỏi cho chúng nó, sự rủa sả giáng trên chúng nó.
65E haawi oe ia lakou i ke kaumaha o ka naau, I kou hoino hoi, ia lakou.
66Ngài sẽ lấy cơn giận và đuổi theo, hủy hoại chúng nó khỏi dưới trời của Đức Giê-hô-va.
66Me ka huhu oe e hahai aku ai, A e luku aku ia lakou, mailalo aku o na lani o Iehova.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.