Ai 3
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Louis Segond 1910
1Ta là người đã thấy khốn khổ bởi gậy thạnh nộ của Ngài.
1Je suis l’homme qui a vu la misère Sous la verge de sa fureur.
2Ngài đã dắt ta và khiến ta bước đi trong tối tăm, chẳng bước đi trong sáng láng.
2Il m’a conduit, mené dans les ténèbres, Et non dans la lumière.
3Chắc Ngài trở tay cả ngày nghịch cùng ta nhiều lần.
3Contre moi il tourne et retourne sa main Tout le jour.
4Ngài đã làm hao mòn thịt và da, đã bẻ gãy xương ta,
4Il a fait dépérir ma chair et ma peau, Il a brisé mes os.
5Đã xây đắp nghịch cùng ta, vây ta bằng mật đắng và sự nhọc nhằn,
5Il a bâti autour de moi, Il m’a environné de poison et de douleur.
6Khiến ta ở trong nơi tối tăm, như người đã chết từ lâu đời.
6Il me fait habiter dans les ténèbres, Comme ceux qui sont morts dès longtemps.
7Ngài đã bao bọc ta bằng tường, mà không cho ra; lại làm cho nặng xiềng ta.
7Il m’a entouré d’un mur, pour que je ne sorte pas; Il m’a donné de pesantes chaînes.
8Khi ta kêu la và xin cứu, Ngài bịt tai chẳng nghe lời cầu nguyện;
8J’ai beau crier et implorer du secours, Il ne laisse pas accès à ma prière.
9Lấy những đá đẽo lấp lối ta; Ngài đã làm cho đường nẻo ta quanh quẹo.
9Il a fermé mon chemin avec des pierres de taille, Il a détruit mes sentiers.
10Ngài đối với ta như gấu rình rập, như sư tử nơi kín đáo;
10Il a été pour moi un ours en embuscade, Un lion dans un lieu caché.
11Khiến ta lạc đường và vồ xé ta, cho ta phải sầu não.
11Il a détourné mes voies, il m’a déchiré, Il m’a jeté dans la désolation.
12Ngài đã giương cung và chọn ta làm tròng cho tên Ngài.
12Il a tendu son arc, et il m’a placé Comme un but pour sa flèche.
13Ngài đã khiến tên trong bao Ngài vào trái cật ta:
13Il a fait entrer dans mes reins Les traits de son carquois.
14Ta làm trò cười cho cả dân ta, họ lấy ta làm bài hát cả ngày.
14Je suis pour tout mon peuple un objet de raillerie, Chaque jour l’objet de leurs chansons.
15Ngài đã cho ta đầy dẫy sự đắng cay, cho ta no nê bằng ngải cứu.
15Il m’a rassasié d’amertume, Il m’a enivré d’absinthe.
16Ngài đã lấy sỏi bẻ răng ta; vùi ta vào trong tro.
16Il a brisé mes dents avec des cailloux, Il m’a couvert de cendre.
17Ngài khiến hồn ta xa sự bình an, ta đã quên phước lành.
17Tu m’as enlevé la paix; Je ne connais plus le bonheur.
18Ta rằng: Hết sức mạnh ta, dứt lòng trông đợi Đức Giê-hô-va.
18Et j’ai dit: Ma force est perdue, Je n’ai plus d’espérance en l’Éternel!
19Hãy nhớ đến sự hoạn nạn khốn khổ ta, là ngải cứu và mật đắng.
19Quand je pense à ma détresse et à ma misère, A l’absinthe et au poison;
20Hồn ta còn nhớ đến, và hao mòn trong ta.
20Quand mon âme s’en souvient, Elle est abattue au-dedans de moi.
21Ta nhớ lại sự đó, thì có sự trông mong:
21Voici ce que je veux repasser en mon cœur, Ce qui me donnera de l’espérance.
22Aáy là nhờ sự nhân từ Đức Giê-hô-va mà chúng ta chưa tuyệt. Vì sự thương xót của Ngài chẳng dứt.
22Les bontés de l’Éternel ne sont pas épuisées, Ses compassions ne sont pas à leur terme;
23Mỗi buổi sáng thì lại mới luôn, sự thành tín Ngài là lớn lắm.
23Elles se renouvellent chaque matin. Oh! Que ta fidélité est grande!
24Hồn ta nói: Đức Giê-hô-va là cơ nghiệp ta, nên ta để lòng trông cậy nơi Ngài.
24L’Éternel est mon partage, dit mon âme; C’est pourquoi je veux espérer en lui.
25Đức Giê-hô-va ban sự nhân từ cho những kẻ trông đợi Ngài, cho linh hồn tìm cầu Ngài.
25L’Éternel a de la bonté pour qui espère en lui, Pour l’âme qui le cherche.
26Thật tốt cho người trông mong và yên lặng đợi chờ sự cứu rỗi của Đức Giê-hô-va.
26Il est bon d’attendre en silence Le secours de l’Éternel.
27Thật tốt cho người mang ách lúc trẻ thơ.
27Il est bon pour l’homme De porter le joug dans sa jeunesse.
28Phải, nó phải ngồi một mình và làm thinh, vì Ngài đã gán ách trên mình.
28Il se tiendra solitaire et silencieux, Parce que l’Éternel le lui impose;
29Nó khá để miệng trong bụi đất! hoặc giả sẽ có sự trông mong.
29Il mettra sa bouche dans la poussière, Sans perdre toute espérance;
30Nó khá đưa má ra cho kẻ vả, khá chịu đầy nhuốc nhơ.
30Il présentera la joue à celui qui le frappe, Il se rassasiera d’opprobres.
31Vì Chúa chẳng hề bỏ cho đến đời đời.
31Car le Seigneur Ne rejette pas à toujours.
32Dầu Ngài đã làm cho lo buồn, còn sẽ thương xót theo sự dư dật của lòng nhân từ Ngài;
32Mais, lorsqu’il afflige, Il a compassion selon sa grande miséricorde;
33Vì ấy là chẳng phải bổn tâm Ngài làm cho con cái loài người cực khổ và buồn rầu.
33Car ce n’est pas volontiers qu’il humilie Et qu’il afflige les enfants des hommes.
34Khi người ta giày đạp mọi kẻ tù trong đất,
34Quand on foule aux pieds Tous les captifs du pays,
35Khi uốn cong lý đoán của người trước mặt Đấng Rất Cao,
35Quand on viole la justice humaine A la face du Très-Haut,
36Khi điên đảo ai trong sự xét đoán, thì Chúa chẳng ưng chịu.
36Quand on fait tort à autrui dans sa cause, Le Seigneur ne le voit-il pas?
37Nếu chẳng phải Chúa truyền lịnh, ai hay nói ra và sự ấy được thành?
37Qui dira qu’une chose arrive, Sans que le Seigneur l’ait ordonnée?
38Há chẳng phải từ miệng Đấng Rất Cao ra tai họa và phước lành?
38N’est-ce pas de la volonté du Très-Haut que viennent Les maux et les biens?
39Cớ sao người đang sống phàn nàn vì chịu hình phạt về tội lỗi mình?
39Pourquoi l’homme vivant se plaindrait-il? Que chacun se plaigne de ses propres péchés.
40Chúng ta hãy xét và thử đường mình, trở về cùng Đức Giê-hô-va.
40Recherchons nos voies et sondons, Et retournons à l’Éternel;
41Chúng ta hãy giơ lòng và tay lên đến Đức Chúa Trời trên trời.
41Élevons nos cœurs et nos mains Vers Dieu qui est au ciel:
42Chúng tôi đã phạm phép, đã bạn nghịch; Ngài đã chẳng dung thứ!
42Nous avons péché, nous avons été rebelles! Tu n’as point pardonné!
43Ngài lấy giận che mình và đuổi theo chúng tôi, giết lát chúng tôi, chẳng thương xót.
43Tu t’es caché dans ta colère, et tu nous as poursuivis; Tu as tué sans miséricorde;
44Ngài ẩn mình trong mây, đến nỗi chẳng lời cầu nguyện nào thấu qua được.
44Tu t’es enveloppé d’un nuage, Pour fermer accès à la prière.
45Ngài làm chúng tôi ra của bỏ, ra đồ rác rến trong dân sự.
45Tu nous as rendus un objet de mépris et de dédain Au milieu des peuples.
46Mọi kẻ nghịch thù hả miệng rộng nghịch cùng chúng tôi.
46Ils ouvrent la bouche contre nous, Tous ceux qui sont nos ennemis.
47Chúng tôi đã mắc sự sợ hãi, hầm hố, hủy diệt, và hư hại.
47Notre partage a été la terreur et la fosse, Le ravage et la ruine.
48Mắt tôi chảy dòng nước, vì gái dân tôi mắc diệt vong.
48Des torrents d’eau coulent de mes yeux, A cause de la ruine de la fille de mon peuple.
49Mắt tôi tuôn nước mắt, không thôi cũng không ngớt,
49Mon œil fond en larmes, sans repos, Sans relâche,
50Cho đến chừng nào Đức Giê-hô-va đoái xem, từ trên trời ngó xuống.
50Jusqu’à ce que l’Éternel regarde et voie Du haut des cieux;
51Mắt tôi làm khổ linh hồn tôi, vì mọi con gái của thành tôi.
51Mon œil me fait souffrir, A cause de toutes les filles de ma ville.
52Những kẻ vô cớ thù nghịch tôi đã đuổi tôi như đuổi chim.
52Ils m’ont donné la chasse comme à un oiseau, Ceux qui sont à tort mes ennemis.
53Họ muốn giết tôi nơi ngục tối, và ném đá trên tôi.
53Ils ont voulu anéantir ma vie dans une fosse, Et ils ont jeté des pierres sur moi.
54Nước lên ngập đầu tôi, tôi nói: Ta phải chết mất!
54Les eaux ont inondé ma tête; Je disais: Je suis perdu!
55Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi từ nơi ngục tối rất sâu kêu cầu danh Ngài.
55J’ai invoqué ton nom, ô Éternel, Du fond de la fosse.
56Ngài chúng con đã nghe tiếng tôi, xin đừng bịt tai khỏi hơi thở và lời kêu van tôi.
56Tu as entendu ma voix: Ne ferme pas l’oreille à mes soupirs, à mes cris!
57Ngày tôi cầu Ngài, Ngài đã đến gần tôi, đã phán cùng tôi: Chớ sợ hãi chi!
57Au jour où je t’ai invoqué, tu t’es approché, Tu as dit: Ne crains pas!
58Hỡi Chúa, Ngài đã đối nại việc hồn tôi, là Đấng chuộc mạng tôi.
58Seigneur, tu as défendu la cause de mon âme, Tu as racheté ma vie.
59Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài đã thấy người ta hiếp đáp tôi: xin đoán xét việc tôi!
59Éternel, tu as vu ce qu’on m’a fait souffrir: Rends-moi justice!
60Chúng nó báo thù, lập mưu hại tôi, thì Ngài đã thấy hết.
60Tu as vu toutes leurs vengeances, Tous leurs complots contre moi.
61Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài đã nghe chúng nó sỉ nhục, bày mọi mưu chước nghịch cùng tôi.
61Éternel, tu as entendu leurs outrages, Tous leurs complots contre moi,
62Những môi miếng của kẻ dấy nghịch cùng tôi và mưu kế lập ra hại tôi cả ngày.
62Les discours de mes adversaires, et les projets Qu’ils formaient chaque jour contre moi.
63Xin Ngài xem sự ngồi xuống và đứng dậy của chúng nó; tôi là bài hát của chúng nó.
63Regarde quand ils sont assis et quand ils se lèvent: Je suis l’objet de leurs chansons.
64Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài sẽ báo trả chúng nó tùy theo việc tay chúng nó làm.
64Tu leur donneras un salaire, ô Éternel, Selon l’œuvre de leurs mains;
65Ngài sẽ ban lòng cứng cỏi cho chúng nó, sự rủa sả giáng trên chúng nó.
65Tu les livreras à l’endurcissement de leur cœur, A ta malédiction contre eux;
66Ngài sẽ lấy cơn giận và đuổi theo, hủy hoại chúng nó khỏi dưới trời của Đức Giê-hô-va.
66Tu les poursuivras dans ta colère, et tu les extermineras De dessous les cieux, ô Éternel!
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.