Gi 11
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Có một người đau, tên là La-xa-rơ, ở Bê-tha-ni, là làng của Ma-ri và chị người là Ma-thê.
1U A mai kekahi, o Lazaro, no Betania, no ke kauhale o Maria a me kona kaikuaana o Mareta.
2Ma-ri là người đã xức dầu thơm cho Chúa, và lấy tóc mình lau chân Ngài; chính anh người là La-xa-rơ đang đau.
2O ka Maria keia i kahinu ai i ka Haku i ka mea poni, a holoi hoi i kona wawae me kona lauoho, nona ke kaikunane mai, o Lazaro.
3Vậy, hai chị em sai người đến thưa cùng Đức Chúa Jêsus rằng: Lạy Chúa, nầy, kẻ Chúa yêu mắc bịnh.
3Hoouna ae la na kaikuwahine io na la, i ae la, E ka Haku, aia hoi o ka mea au i aloha ai, ua mai.
4Đức Chúa Jêsus vừa nghe lời đó, bèn phán rằng: Bịnh nầy không đến chết đâu, nhưng vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, hầu cho Con Đức Chúa Trời bởi đó được sáng danh.
4A lohe ae la o Iesu, i ae la, Aole keia ka mai e make ai, aka, no ka nani o ke Akua, i hoonaniia'i hoi ke Keiki a ke Akua ma ia mea.
5Vả, Đức Chúa Jêsus yêu Ma-thê, em người, và La-xa-rơ.
5Aloha ae la o Iesu ia Mareta, a me kona kaikaina, a me Lazaro.
6Khi Ngài nghe người nầy đau, bèn ở lại hai ngày nữa trong nơi Ngài đang ở.
6A lohe ae la ia, ua mai oia, alaila noho iho la ia ma ia wahi i na la elua.
7Rồi đó, Ngài phán cùng môn đồ rằng: Chúng ta hãy trở về xứ Giu-đê.
7Mahope iho, olelo mai la ia i na haumana, E hele hou kakou i Iudea.
8Môn đồ thưa rằng: Thưa thầy, hôm trước dân Giu-đa tìm ném đá thầy, thầy còn trở lại nơi họ sao!
8I aku la na haumana ia ia, E Rabi, ua imi iho nei na Iudaio e hailuku ia oe, a e hele hou anei oe ilaila?
9Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Trong ban ngày há chẳng phải có mười hai giờ sao? Nếu ai đi ban ngày, thì không vấp, vì thấy sự sáng của thế gian nầy.
9I mai la o Iesu, Aole anei he umikumamalua hora o ke ao? Ina e hele kekahi i ke ao, aole ia e okupe, no ka mea, ua ike no ia i ka malamalama o keia ao.
10Nhưng nếu ai đi ban đêm, thì vấp, vì không có sự sáng.
10Aka, ina e hele kekahi i ka po, e okupe no ia, no ka mea, aohe ona malamalama.
11Ngài phán như vậy, rồi tiếp rằng: La-xa-rơ, bạn ta, đang ngủ; nhưng ta đi đánh thức người.
11Pau ae la kana olelo ana ia mea; alaila i mai la oia ia lakou, Ua hiamoe o Lazaro ko kakou hoaaloha: aka, e hele aku au e hoala mai ia ia.
12Môn đồ thưa rằng: Thưa Chúa, nếu người ngủ, chắc sẽ được lành.
12I aku la kana poe haumana, E ka Haku, a i hiamoe ia, e ola auanei.
13Vả, Đức Chúa Jêsus phán lời đó chỉ về sự chết của La-xa-rơ; song môn đồ tưởng nói về giấc ngủ thường.
13No kona make ana hoi ka Iesu i olelo ai, aka, manao iho la lakou, no ka hoomaba ana ma ka hiamoe kana i olelo ai.
14Đức Chúa Jêsus bèn nói tỏ tường cùng môn đồ rằng: La-xa-rơ chết rồi.
14Alaila olelo akaka mai la o Iesu ia lakou, Ua make io o Lazaro.
15Ta vì các ngươi mừng không có ta tại đó, để cho các ngươi tin; nhưng chúng ta hãy đi đến cùng người.
15A ke olioli nei au no oukou, no ka mea, aole au ilaila, i manaoio ai oukou; aka, e haele kakou io na la.
16Nhân đó, Thô-ma, gọi là Đi-đim, nói với môn đồ khác rằng: Chúng ta cũng hãy đi tới đó đặng chết với Ngài!
16I aku la o Toma, i oleloia o Didumo, i kona mau hoahaumana, E haele hoi kakou, i make pu ai kakou me ia.
17Khi Đức Chúa Jêsus đến nơi, thấy đã chôn La-xa-rơ trong mộ bốn ngày rồi.
17A hiki aka la o Iesu, ike iho la ia, aha ona la iloko o ka halekapapau.
18Vả, thành Bê-tha-ni cách thành Giê-ru-sa-lem chỉ độ mười lăm ếch-ta-đơ.
18Ua kokoke o Betania i Ierusalema, he umi paha a me kamamalima setadia.
19Có nhiều người Giu-đa đã đến đó đặng yên ủi Ma-thê và Ma-ri về sự anh chết.
19A nui ka poe Iudaio i hele aku io Mareta la, a me Maria, e hooluolu ia laua no ko laua kaikunane.
20Lúc Ma-thê nghe Đức Chúa Jêsus đến, thì đi đón Ngài; nhưng Ma-ri thì ngồi tại nhà.
20A lohe ae la o Mareta, i ko Iesu hele ana mai, hoohalawai aku la kela me ia: aka, noho iho la o Maria ma ka hale.
21Ma-thê thưa cùng Đức Chúa Jêsus rằng: Lạy Chúa, nếu Chúa có đây, thì anh tôi không chết;
21Olelo aku la o Mareta ia Iesu, E ka Haku, ina o oe maanei, ina aole no i make kuu kaikunane.
22mà bây giờ tôi cụng biết mọi điều Ngài sẽ xin Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời ắt ban cho.
22Aka, na ike no au ano, o ka mea au e noi aku ai i ke Akua, oia ka ke Akua e haawi mai ai ia oe.
23Đức Chúa Jêsus phán rằng: Anh ngươi sẽ sống lại.
23Olelo mai la o Iesu ia ia, E ala hou mai no kou kaikunane.
24Ma-thê thưa rằng: Tôi vẫn biết rằng đến sự sống lại ngày cuối cùng, anh tôi sẽ sống lại.
24I aku la o Mareta ia ia, Ua ike no au e ala hou mai ia i ke ala hou ana i ka la mahope.
25Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi.
25I mai la o Iesu ia ia, Owau no ke alahouana, a me ke ola: o ka mea e manaoio mai ia'u, ina e make ia, e ola hou auanei oia.
26Còn ai sống và tin ta thì không hề chết. Ngươi tin điều đó chăng?
26O ka mea e ola ana, a e manaoio mai ia'u, aole loa ia e make. Ke manaoio nei anei oe i keia?
27Người thưa rằng: Lạy Chúa, phải, tôi tin Chúa là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời, là Đấng phải đến thế gian.
27I aku la kola ia ia, Ae, e ka Haku, ke manaoio nei au o oe ka Mesia, ke Keiki a ke Akua, ka mea hele mai i ke ao nei.
28Người nói xong, liền về, lén kêu em là Ma-ri, mà rằng: Thầy ở đằng kia, đang gọi em lại.
28A oki ae la ia olelo, hoi aku la ia, a hea malu aku la ia Maria, kona kaikaina, i aku la, Ua hiki mai ke Kumu, a ke hea mai nei ia oe.
29Ma-ri vừa nghe mấy lời, vội vàng đứng dậy đến cùng Ngài.
29A lohe ae la ia, ku koke ae, a hele aku la io na la.
30Vả, Đức Chúa Jêsus chưa vào trong làng, nhưng còn đứng nơi Ma-thê đến đón Ngài.
30Aole i hiki aku o Iesu i ke kulanahale, aia no ia ma kahi i halawai ai o Mareta me ia.
31Khi những người Giu-đa đang ở trong nhà với Ma-ri và yên ủi người, thấy người đứng dậy đi ra vội vã như vậy, thì theo sau, vì nghĩ rằng người đến mộ đặng khóc.
31Aona Iudaio e noho pa ana me ia ma ka hale, a e hooluolu ana ia ia, ike aku la ia Maria e ku koke ae a hele iwaho, hahai aku la lakou ia ia, i ae la, Ua hele aku nei ia ma ka halekupapau e uwe ai malaila.
32Nhưng Ma-ri, lúc đã tới nơi Đức Chúa Jêsus đứng, vừa thấy Ngài, thì sấp mình xuống chân Ngài mà nói rằng: Lạy Chúa, nếu có Chúa đây, thì anh tôi không chết!
32A hiki aku la o Maria i ko Iesu wahi, a ike aku la ia ia, moe iho la ia ma kona wawae, i aka la ia ia, E ka Haku, ina o oe maanei, ina aole i make kuu kaikunane.
33Đức Chúa Jêsus thấy người khóc, và những người Giu-đa đi với người cũng khóc, bèn đau lòng cảm động mà phán rằng: Các ngươi đã chôn người ở đâu?
33A ike mai la o Iesu ia ia o uwe ana, a me ka poe Iudaio i hele pu mai me ia e uwe ana, auwe iho la ia ma ka naau, a ehaeha hoi,
34Chúng thưa rằng: Lạy Chúa, xin hãy lại coi.
34A ninau mai la ia, Mahea la oukou i waiho at ia ia? I aku la lakou ia ia, E ka Haku, e hele mai e nana.
35Đức Chúa Jêsus khóc.
35Uwe iho la o Iesu.
36Người Giu-đa bèn nói rằng: Kìa, người yêu La-xa-rơ là dường nào!
36No ia mea, olelo ae la ka poe Iudaio, Aia hoi, nani kona aloha ia ia!
37Có một vài người trong chúng nói: Người đã mở mắt kẻ mù được, há chẳng có thể cũng làm cho người nầy không chết sao?
37Olelo ae la kekahi poe o lakou, Aole anei i hiki ia ia nei, nana i hookaakaa na maka o ka makapo, ke hana, i ole ai e make keia kanaka?
38Bấy giờ, Đức Chúa Jêsus lại đau lòng nữa, bèn đến phần mộ: mộ bằng một cái hang, trước cửa hang có một hòn đá chận lại.
38Alaila uwe hou iho la o Iesu iloko ona, a hiki ma ka halekupapau. He ana ia, a ua paniia i ka pohaku.
39Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy lăn hòn đá đi. Ma-thê, là em gái kẻ chết, thưa rằng: Lạy Chúa, đã có mùi, vì người nằm đó bốn ngày rồi.
39I mai la o Iesu, E lawe aku i ka pohaku. I aku la o Mareta ia ia, ke kaikuwahine o ka mea i make, E ka Haku, ua pilau ia, no ka mea, o ka ha keia o ka la.
40Đức Chúa Jêsus lại phán: Ta há chẳng từng nói với ngươi rằng nếu ngươi tin thì sẽ thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời sao?
40I mai la o Iesu ia ia, Aole anei au i olelo aku ia oe, ina e manaoio mai oe, e ike auanei oe i ka nani o ke Akua?
41Vậy, họ lăn hòn đá đi. Đức Chúa Jêsus bèn nhướng mắt lên trời mà rằng: Thưa Cha, tôi tạ ơn Cha, vì đã nhậm lời tôi.
41Alaila lawe ae la lakou i ka pohaku mai kahi o ka mea make i waiho ai. A leha ao la o Iesu i kona mau maka iluna, a i aku la. E ka Makua, ke hoomaikai aku nei au ia oe, no kou hoolohe ana ia'u.
42Tôi biết rõ rằng Cha nhậm lời tôi luôn, nhưng tôi nói vậy là vì cớ đoàn dân nầy đứng chung quanh tôi, hầu cho họ tin rằng ấy chính Cha là Đấng đã sai tôi đến.
42A ua ike no au, ua hoolohe mai oe ia'u i na manawa a pau; aka, no ka ahakanaka e ku mai nei i olelo aku ai au, i manaoio mai ai lakou, o oe ka i hoouna mai ia'u.
43Khi Ngài nói xong, bèn kêu lên một tiếng lớn rằng: Hỡi La-xa-rơ, hãy ra!
43A pau kana olelo ana ia mea, kahea aku la ia me ka leo nui, E Lazaro, e hele mai oe iwaho.
44Người chết đi ra, chân tay buộc bằng vải liệm và mặt thì phủ khăn. Đức Chúa Jêsus phán cùng chúng rằng: Hãy mở cho người, và để người đi.
44A hele mai iwaho ka mea i make, ua nakiiia ma na wawae a ma na lima i na kahakahana lole; a ua kaeiia kona wahi maka a puni me ka hainaka. I mai la o Iesu ia lakou, E kala ae ia ia, a kuu aku ia ia e hele.
45Có nhiều người Giu-đa đã đến cùng Ma-ri và thấy sự Đức Chúa Jêsus làm, bèn tin Ngài.
45No ia mea, nui ka poe o na Iudaio i hele mai io Maria la, a ike i na mea a Iesu i hana'i, manaoio aku lakou ia ia.
46Nhưng một vài người trong bọn đó đi tìm người Pha-ri-si, mách cho họ sự Đức Chúa Jêsus đã làm.
46A hele aku kekahi poe o lakou i na Parisaio, a hai aku la ia lakou i na mea a Iesu i hana'i.
47Các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si nhóm tòa công luận, bàn rằng: Người nầy làm phép lạ nhiều lắm, chúng ta tính thế nào?
47Alaila hoakoakoa ae la na kahuna nui, a me na Parisaio i ka ahaolelo, i ae la lakou, Heaha ka kakou e hana'i? no ka mea, ua hana keia kanaka i na hana mana he nui no.
48Nếu chúng ta để cho người làm, thì thiên hạ tin người, rồi dân Rô-ma sẽ đến diệt nơi nầy và cả nước chúng ta nữa.
48Ina e waiho wale aku kakou ia ia pela, e manaoio auanei na kanaka a pau ia ia; a e hele mai ko Roma, a e luku i ko kakou wahi a me ko kakou lahuikanaka.
49Nhưng một người trong bọn họ, tên là Cai-phe, làm thầy cả thượng phẩm đang niên, nói rằng: Các ngươi chẳng biết gì hết!
49O kekahi o lakou, o Kaiapa, oia ke kahuna nui i kela makahiki, i aku la ia lakou, Aole maopopo iki ia oukou,
50Các ngươi chẳng xét rằng thà một người vì dân chịu chết, còn hơn cả nước bị hư mất.
50Aole hoi oukou i manao, he pono no kakou e make kekahi kanaka no na kanaka, aole hoi e lukuia ka lahuikanaka a pau.
51Vả, người nói điều đó chẳng phải tự mình, nhưng bởi làm thầy cả thượng phẩm đang niên, người nói tiên tri về Đức Chúa Jêsus sẽ vì dân mà chết;
51Aole nana iho keia mea ana i olelo mai ai; aka, e noho kahuna nui ana ia i kela makahiki, wanana ae la ia, e make o Iesu no ka lahuikanaka:
52và không những vì dân thôi, mà cũng để nhóm con cái Đức Chúa Trời đã tản lạc lại làm một đoàn.
52Aole nae no ia lahuikanaka wale no, aka, i houluulu mai ai hoi ia i na keiki a ke Akua, i noho liilii aku ai, iloko o ka hookahi.
53Từ ngày đó, chúng lập mưu giết Ngài.
53Mai ia manawa mai, kuka pu iho la lakou e pepehi ia ia.
54Cho nên Đức Chúa Jêsus không tỏ mình rõ ràng trong vòng dân Giu-đa nữa, song Ngài đi trong miền gần đồng vắng, nơi một thành gọi là Eùp-ra-im; và ở lại đó với môn đồ.
54No ia mea, aole i hele hoike hou ia aku la o Iesu iwaena o na Iudaio; aka, hele aku la ia mai laila aku ma kahi kokoke i ka waonahele, ma ke kulanakauhale i kapaia o Eperaima, a malaila ia i noho ai me kana poe haumana.
55Lễ Vượt Qua của dân Giu-đa gần đến, có lắm người trong xứ lên thành Giê-ru-sa-lem trước ngày lễ để tẩy uế.
55A kokoke mai ka moliaola a na Iudaio: a nui na mea i hele aku i Ierusalema mai ka aina aku mamua o ka moliaola, i hoomakaukau ai lakou ia lakou iho.
56Vậy, chúng kiếm Đức Chúa Jêsus, và đứng trong đền thờ, nói với nhau rằng: Các ngươi tưởng thế nào? Người không đến giữ lễ hay sao?
56Alaila imi aku la lakou ia Iesu, a ninau ae la lakou ia lakou iho e ku ana iloko o ka luakini, Heaha ko oukou manao, aole anei ia e hele mai i ka ahaaina?
57Vả, các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si đã ra lịnh, nếu ai biết Đức Chúa Jêsus ở đâu, thì phải mách với họ, để họ bắt Ngài.
57Ua kauoha aku na kahuna nui a me na Parisaio, ina i ike kekahi i kona wahi e noho ai, e hai mai ia, i hopu aku lakou ia ia.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.