Gi 11
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Có một người đau, tên là La-xa-rơ, ở Bê-tha-ni, là làng của Ma-ri và chị người là Ma-thê.
1Lazaru, tiah kawk ih kami loe ngannat, anih loe Meri hoi amnawk Martha ohhaih Bethani avang ih kami ah oh.
2Ma-ri là người đã xức dầu thơm cho Chúa, và lấy tóc mình lau chân Ngài; chính anh người là La-xa-rơ đang đau.
2(To Meri loe nganna Lazaru ih tanuh ah oh moe, Angraeng ih khok to hmuihoih tui hoiah bawh moe, a sam hoiah anih ih khok hmawt pae kami ah oh.)
3Vậy, hai chị em sai người đến thưa cùng Đức Chúa Jêsus rằng: Lạy Chúa, nầy, kẻ Chúa yêu mắc bịnh.
3To pongah a tanuh hnik mah Anih khaeah, Angraeng, khenah, na palung ih kami loe ngannat, tiah lok a pat pae hoi.
4Đức Chúa Jêsus vừa nghe lời đó, bèn phán rằng: Bịnh nầy không đến chết đâu, nhưng vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, hầu cho Con Đức Chúa Trời bởi đó được sáng danh.
4To lok to Jesu mah thaih naah, Hae nathaih loe duek han khoek to om ai, toe Sithaw lensawkhaih amtueng han ih ni oh, hae nathaih rang hoiah lensawk Sithaw Capa amtuenghaih to om tih, tiah a naa.
5Vả, Đức Chúa Jêsus yêu Ma-thê, em người, và La-xa-rơ.
5Jesu mah Martha, anih ih amnawk hoi Lazaru to palung.
6Khi Ngài nghe người nầy đau, bèn ở lại hai ngày nữa trong nơi Ngài đang ở.
6Lazaru ngannat ti, tiah Anih mah thaih pacoengah, anih loe a ohhaih ahmuen ah ni hnetto thung cam vop.
7Rồi đó, Ngài phán cùng môn đồ rằng: Chúng ta hãy trở về xứ Giu-đê.
7To pacoengah a hnukbang kaminawk khaeah, Jerusalem ah caeh o let si boeh, tiah a naa.
8Môn đồ thưa rằng: Thưa thầy, hôm trước dân Giu-đa tìm ném đá thầy, thầy còn trở lại nơi họ sao!
8A hnukbang kaminawk mah Anih khaeah, Rabbi, canghni pangah ni Judahnawk mah thlung hoi vah hanah Ang pakrong o; to ahmuen ah Na caeh let han maw? tiah a naa o.
9Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Trong ban ngày há chẳng phải có mười hai giờ sao? Nếu ai đi ban ngày, thì không vấp, vì thấy sự sáng của thế gian nầy.
9Jesu mah, Nito naah atue hatlai hnetto om ai maw? Mi kawbaktih doeh khodai ah caeh kami loe, hae long aanghaih to a hnuk pongah amthaek ai.
10Nhưng nếu ai đi ban đêm, thì vấp, vì không có sự sáng.
10Toe khoving ah caeh kami loe, aanghaih om ai pongah, amthaek, tiah a naa.
11Ngài phán như vậy, rồi tiếp rằng: La-xa-rơ, bạn ta, đang ngủ; nhưng ta đi đánh thức người.
11Anih mah nihcae khaeah, Hae loknawk thuih pacoengah, Aicae ampui Lazaru loe a iih; toe Ka caeh moe, Ka pathawk han, tiah a naa.
12Môn đồ thưa rằng: Thưa Chúa, nếu người ngủ, chắc sẽ được lành.
12Anih hnukbang kaminawk mah, Angraeng, anih iip nahaeloe hoi tih, tiah a naa o.
13Vả, Đức Chúa Jêsus phán lời đó chỉ về sự chết của La-xa-rơ; song môn đồ tưởng nói về giấc ngủ thường.
13Jesu mah Lazaru loe duek boeh, tiah thuih koehhaih ih ni, toe nihcae mah loe iih rumramhaih mue a thuih, tiah poek o.
14Đức Chúa Jêsus bèn nói tỏ tường cùng môn đồ rằng: La-xa-rơ chết rồi.
14To pacoengah Jesu mah nihcae khaeah, Lazaru loe duek boeh, tiah kamnoek ah thuih pae.
15Ta vì các ngươi mừng không có ta tại đó, để cho các ngươi tin; nhưng chúng ta hãy đi đến cùng người.
15Na tang o thai hanah, to ahmuen ah ka om ai pongah, nangcae hanah anghoehaih ka tawnh; vaihi anih khaeah caeh o si, tiah a naa.
16Nhân đó, Thô-ma, gọi là Đi-đim, nói với môn đồ khác rằng: Chúng ta cũng hãy đi tới đó đặng chết với Ngài!
16To naah Didymas, tiah kawk ih, Thomas mah a hnukbang ampuinawk khaeah, aicae doeh anih hoi nawnto duek hanah caeh o toeng si, tiah a naa.
17Khi Đức Chúa Jêsus đến nơi, thấy đã chôn La-xa-rơ trong mộ bốn ngày rồi.
17Jesu phak naah, anih aphumhaih ni palito oh boeh, tito Anih mah panoek.
18Vả, thành Bê-tha-ni cách thành Giê-ru-sa-lem chỉ độ mười lăm ếch-ta-đơ.
18Bethani loe Jerusalem hoiah meng hnetto oh duih.
19Có nhiều người Giu-đa đã đến đó đặng yên ủi Ma-thê và Ma-ri về sự anh chết.
19Nihnik ih thangqoi to duek pae boeh pongah, pathloep hanah paroeai Judahnawk Martha hoi Meri khaeah caeh o.
20Lúc Ma-thê nghe Đức Chúa Jêsus đến, thì đi đón Ngài; nhưng Ma-ri thì ngồi tại nhà.
20Jesu angzoh ti, tiah Martha mah thaih naah, Anih dawt hanah a caeh: toe Meri loe im ah oh.
21Ma-thê thưa cùng Đức Chúa Jêsus rằng: Lạy Chúa, nếu Chúa có đây, thì anh tôi không chết;
21Martha mah Jesu khaeah, Angraeng, haeah na oh nahaeloe, ka thangqoi hae dueh mak ai.
22mà bây giờ tôi cụng biết mọi điều Ngài sẽ xin Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời ắt ban cho.
22Toe vaihi doeh Sithaw khaeah na hnik ih hmuen boih loe, Sithaw mah na paek tih, tiah ka panoek, tiah a naa.
23Đức Chúa Jêsus phán rằng: Anh ngươi sẽ sống lại.
23Jesu mah nongpata khaeah, Na thangqoi loe angthawk let tih, tiah a naa.
24Ma-thê thưa rằng: Tôi vẫn biết rằng đến sự sống lại ngày cuối cùng, anh tôi sẽ sống lại.
24Martha mah anih khaeah, Hnukkhuem angthawk lethaih niah loe anih angthawk let tih, tiah ka panoek, tiah a naa.
25Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi.
25Jesu mah anih khaeah, Kai loe angthawk lethaih hoi hinghaih ah Ka oh: Kai tang kami loe, dueh cadoeh, hing tih:
26Còn ai sống và tin ta thì không hề chết. Ngươi tin điều đó chăng?
26mi kawbaktih doeh Kai tanghaih hoiah khosah kami loe natuek naah doeh dueh mak ai. Hae lok hae na tang maw? tiah a naa.
27Người thưa rằng: Lạy Chúa, phải, tôi tin Chúa là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời, là Đấng phải đến thế gian.
27Nongpata mah Anih khaeah, Ue, Angraeng: Nang loe Kri ni, long nuiah angzo han koi, Sithaw Capa ah na oh, tito Ka tang, tiah a naa.
28Người nói xong, liền về, lén kêu em là Ma-ri, mà rằng: Thầy ở đằng kia, đang gọi em lại.
28To tiah lok cae a thuih pacoengah, Martha loe caeh moe, tamquta hoi amnawk Meri to kawk, Patukkung, angzoh boeh, nang ang kawksak, tiah a naa.
29Ma-ri vừa nghe mấy lời, vội vàng đứng dậy đến cùng Ngài.
29Meri mah to lok to thaih naah, karangah angthawk moe, Anih khaeah caeh.
30Vả, Đức Chúa Jêsus chưa vào trong làng, nhưng còn đứng nơi Ma-thê đến đón Ngài.
30To naah Jesu loe avang thungah akun ai vop, Anih loe Martha mah dawthaih ahmuen ah ni oh vop.
31Khi những người Giu-đa đang ở trong nhà với Ma-ri và yên ủi người, thấy người đứng dậy đi ra vội vã như vậy, thì theo sau, vì nghĩ rằng người đến mộ đặng khóc.
31Meri pathloep hanah im ah kangzo Judahnawk loe, karangah angthawk o moe, tasa bangah tacawt Meri to hnuk o naah, qah han ih mue taprong ah a caeh, tiah poek o pongah, anih hnukah bang o.
32Nhưng Ma-ri, lúc đã tới nơi Đức Chúa Jêsus đứng, vừa thấy Ngài, thì sấp mình xuống chân Ngài mà nói rằng: Lạy Chúa, nếu có Chúa đây, thì anh tôi không chết!
32Meri loe Jesu ohhaih ahmuen to phak moe, Anih to hnuk naah, a khokkung ah cangkrawn moe, Anih khaeah, Angraeng, haeah na oh nahaeloe, ka thangqoi hae dueh mak ai, tiah a naa.
33Đức Chúa Jêsus thấy người khóc, và những người Giu-đa đi với người cũng khóc, bèn đau lòng cảm động mà phán rằng: Các ngươi đã chôn người ở đâu?
33Anih qahhaih hoi anih hoi nawnto kangzo Judahnawk qahhaih to Jesu mah hnuk naah, palungset moe, poek angpho,
34Chúng thưa rằng: Lạy Chúa, xin hãy lại coi.
34anih mah naa ah maw a qok to na pasong o? tiah a naa. Nihcae mah anih khaeah, Angraeng, angzo ah loe khenah, tiah a naa o.
35Đức Chúa Jêsus khóc.
35Jesu qah.
36Người Giu-đa bèn nói rằng: Kìa, người yêu La-xa-rơ là dường nào!
36Judah kaminawk mah, Khen oh, Anih mah kawkrukmaw Lazaru to palung, tiah thuih o.
37Có một vài người trong chúng nói: Người đã mở mắt kẻ mù được, há chẳng có thể cũng làm cho người nầy không chết sao?
37Nihcae thung ih thoemto kaminawk mah, Mikmaeng mik amtuengsak, hae kami mah Lazaru duek han ai ah sah thai mak ai maw? tiah thuih o.
38Bấy giờ, Đức Chúa Jêsus lại đau lòng nữa, bèn đến phần mộ: mộ bằng một cái hang, trước cửa hang có một hòn đá chận lại.
38To pongah Jesu loe palungset hoiah taprong ah caeh. Taprong loe thlung khaw ah oh pongah, akhaw to thlung hoiah kraeng o.
39Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy lăn hòn đá đi. Ma-thê, là em gái kẻ chết, thưa rằng: Lạy Chúa, đã có mùi, vì người nằm đó bốn ngày rồi.
39Jesu mah, Thlung to takhoe oh, tiah a naa. Toe kadueh kami ih tanuh Martha mah, Anih khaeah, Vaihi loe anih ih qok hmuisae tih boeh, aphumhaih ni palito oh boeh, tiah a naa.
40Đức Chúa Jêsus lại phán: Ta há chẳng từng nói với ngươi rằng nếu ngươi tin thì sẽ thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời sao?
40Jesu mah anih khaeah, Na tang nahaeloe, Sithaw lensawkhaih na hnu tih, tiah kang thuih boeh na ai maw? tiah a naa.
41Vậy, họ lăn hòn đá đi. Đức Chúa Jêsus bèn nhướng mắt lên trời mà rằng: Thưa Cha, tôi tạ ơn Cha, vì đã nhậm lời tôi.
41To naah qok pasonghaih taprong thlung to takhoe pae o. Jesu mah van ah doeng tahang moe, Pa, Ka lok nang tahngaih pae pongah, kawnhaih lok kang thuih.
42Tôi biết rõ rằng Cha nhậm lời tôi luôn, nhưng tôi nói vậy là vì cớ đoàn dân nầy đứng chung quanh tôi, hầu cho họ tin rằng ấy chính Cha là Đấng đã sai tôi đến.
42Ka lok nang tahngaih pae toepsoep, tiah ka panoek: toe haeah angdoe kaminawk mah, Kai loe Nang mah ni patoeh, tiah tang o thai han ih ni, hae lok hae ka thuih, tiah a naa.
43Khi Ngài nói xong, bèn kêu lên một tiếng lớn rằng: Hỡi La-xa-rơ, hãy ra!
43Hae lok a thuih pacoengah, Lazaru, tacawt ah, tiah tha hoi a hang.
44Người chết đi ra, chân tay buộc bằng vải liệm và mặt thì phủ khăn. Đức Chúa Jêsus phán cùng chúng rằng: Hãy mở cho người, và để người đi.
44To naah kadueh kami to tacawt, a ban hoi a khok loe kadueh khukhaih kahni mah zaeng caeng: mikhmai doeh pavawh mah khuk khoep. Jesu mah nihcae khaeah, Anih to khram oh, caeh nasoe, tiah a naa.
45Có nhiều người Giu-đa đã đến cùng Ma-ri và thấy sự Đức Chúa Jêsus làm, bèn tin Ngài.
45Jesu mah sak ih hmuen to, Meri pathloep han angzo paroeai Judahnawk mah hnuk o naah, Anih to tang o.
46Nhưng một vài người trong bọn đó đi tìm người Pha-ri-si, mách cho họ sự Đức Chúa Jêsus đã làm.
46Toe nihcae thung ih thoemto kaminawk loe Farasinawk khaeah caeh o moe, Jesu mah sak ih hmuennawk to thuih pae o.
47Các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si nhóm tòa công luận, bàn rằng: Người nầy làm phép lạ nhiều lắm, chúng ta tính thế nào?
47To naah kalen koek qaima hoi Farasinawk nawnto amkhueng o, Hae kami mah paroeai dawnrai hmuennawk sak boeh pongah, timaw a sak o han?
48Nếu chúng ta để cho người làm, thì thiên hạ tin người, rồi dân Rô-ma sẽ đến diệt nơi nầy và cả nước chúng ta nữa.
48Anih hae hae tiah prawtsut nahaeloe, kaminawk mah anih hae tang o boih tih boeh: to naah Rom kaminawk angzo o ueloe, aicae ih ahmuen hoi acaeng to la o tih boeh, tiah thuih o.
49Nhưng một người trong bọn họ, tên là Cai-phe, làm thầy cả thượng phẩm đang niên, nói rằng: Các ngươi chẳng biết gì hết!
49To naah nihcae thung ih kami, to na saning ah kalen koek qaima toksah Kaiapha mah, nihcae khaeah, Tidoeh na panoek o ai,
50Các ngươi chẳng xét rằng thà một người vì dân chịu chết, còn hơn cả nước bị hư mất.
50acaeng boih anghmat pongah loe, kaminawk hanah kami maeto duek to hoih kue, tiah a naa.
51Vả, người nói điều đó chẳng phải tự mình, nhưng bởi làm thầy cả thượng phẩm đang niên, người nói tiên tri về Đức Chúa Jêsus sẽ vì dân mà chết;
51Anih mah hae lok hae angmah koeh ah thui ai: to na saning ah kalen koek qaima ah a oh baktih toengah, acaeng taham ah Jesu dueh tih, tiah anih mah taphong coek boeh;
52và không những vì dân thôi, mà cũng để nhóm con cái Đức Chúa Trời đã tản lạc lại làm một đoàn.
52to acaengnawk han khue ai, prae kalah ah ampraek phang, Sithaw ih caanawk doeh maeto ah angcusak hanah thuih ih lok ah doeh oh.
53Từ ngày đó, chúng lập mưu giết Ngài.
53To na ni hoi kamtong nihcae loe nawnto amkhueng o moe, Anih hum hanah pacaeng o.
54Cho nên Đức Chúa Jêsus không tỏ mình rõ ràng trong vòng dân Giu-đa nữa, song Ngài đi trong miền gần đồng vắng, nơi một thành gọi là Eùp-ra-im; và ở lại đó với môn đồ.
54To pongah Jesu loe Judahnawk salakah kamtuengah caeh ai; praezaek taengah kaom, Ephraim, tiah kawk ih avang taengah a caeh moe, to ah a hnukbang kaminawk hoi nawnto oh.
55Lễ Vượt Qua của dân Giu-đa gần đến, có lắm người trong xứ lên thành Giê-ru-sa-lem trước ngày lễ để tẩy uế.
55Judahnawk misong loihaih poih loe anghnai boeh: to poih sah ai naah, amprikcai o hanah, paroeai kaminawk loe angmacae avang hoiah Jerusalem ah caeh o.
56Vậy, chúng kiếm Đức Chúa Jêsus, và đứng trong đền thờ, nói với nhau rằng: Các ngươi tưởng thế nào? Người không đến giữ lễ hay sao?
56Nihcae mah Jesu to pakrong o, nihcae tempul thungah angdoet o naah, kawbangmaw na poek o? Anih poihkung ah angzo mak ai maw? tiah maeto hoi maeto angdueng o.
57Vả, các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si đã ra lịnh, nếu ai biết Đức Chúa Jêsus ở đâu, thì phải mách với họ, để họ bắt Ngài.
57Kalen koek qaima hoi Farasinawk mah, Mi kawbaktih doeh Anih ohhaih panoek kami loe, Anih to a naeh o thai hanah, a ohhaih ahmuen to patuek han angaih, tiah lokpaek o.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.