Gi 9
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Đức Chúa Jêsus vừa đi qua, thấy một người mù từ thuở sanh ra.
1Jesu loe loklam ah caeh, to naah tapen tangsuek hoi mikmaeng kami to a hnuk.
2Môn đồ hỏi Ngài rằng: Thưa thầy ai đã phạm tội, người hay là cha mẹ người, mà người sanh ra thì mù như vậy?
2A hnukbang kaminawk mah anih khaeah, Rabbi, hae kami loe angmah ih zaehaih pongah maw, to tih ai boeh loe amno ampanawk zaehaih pongah maw mik maengh? tiah dueng o.
3Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Đó chẳng phải tại người hay tại cha mẹ đã phạm tội; nhưng ấy để cho những việc Đức Chúa Trời được tỏ ra trong người.
3Jesu mah, Angmah zaehaih pongah na ai, amno ampanawk zaehaih pongah doeh na ai: toe anih khaeah Sithaw toksakhaih to amtueng tih.
4Trong khi còn ban ngày, ta phải làm trọn những việc của Đấng đã sai ta đến; tối lại, thì không ai làm việc được.
4Khodai naah kai patoehkung ih tok to ka sak han oh: khoving naah loe mi doeh toksah thai mak ai.
5Đang khi ta còn ở thế gian, ta là sự sáng của thế gian.
5Kia long ah ka oh nathung, kai loe long aanghaih ah ka oh, tiah a naa.
6Nói xong, Ngài nhổ xuống đất, lấy nước miếng trộn thành bùn, và đem xức trên mắt người mù.
6Hae loknawk a thuih pacoengah, anih mah long ah tamtui pathoih moe, long to tamtui hoiah kanaem ah pathluem; to pacoengah mikmaeng ih mik to long kanaem hoiah a nok pae,
7Đoạn, Ngài phán cùng người rằng: Hãy đi, rửa nơi ao Si-lô-ê (nghĩa là chịu sai đi). Vậy, người đi đến ao đó, rửa, và trở lại, thì được thấy rõ.
7caeh ah loe kangbuem Siloam tuili (thuih koehhaih loe patoeh tih haih ih ni) ah amsae ah, tiah a naa.
8Xóm giềng người mù và những kẻ trước kia từng thấy người đi ăn mày đều nói rằng: Nầy có phải là người vẫn ngồi ăn xin đó chăng?
8Imtaeng kaminawk hoi anih loe mikmaeng ni, tiah hnuzong kaminawk mah, Hae kami loe anghnut moe, minawk khaeah ban patueng kami na ai maw? tiah thuih o.
9Người thì nói: Aáy là hắn; kẻ lại nói: Không phải, song một người nào giống hắn. Người mù nói rằng: Chính tôi đây.
9Thoemto kaminawk mah, Hae kami loe anih to ni, tiah thuih o, kalah thoemto kaminawk mah loe, Hae kami loe anih hoiah anghmong, tiah thuih o: toe mikmaeng mah to kami loe kai ni, tiah a naa.
10Chúng bèn hỏi người rằng: Tại sao mắt ngươi đã mở được?
10Nihcae mah anih khaeah, Kawbangmaw na mik amtueng? tiah a naa o.
11Người trả lời rằng: Người tên gọi là Jêsus kia đã hòa bùn, xức mắt tôi, và nói rằng: Hãy đi đến rửa nơi ao Si-lô-ê. Vậy, tôi đi đến, rửa tại đó, rồi thấy được.
11Anih mah, Jesu, tiah kawk ih kami mah long to kanaem ah pathluem moe, ka mik ah ang nok pae, to pacoengah kangbuem Siloam tuili ah amsaeh hanah ang thuih; ka caeh moe, kam saeh naah, ka mik hae amtueng, tiah pathim pae.
12Chúng hỏi rằng: Người ấy ở đâu? Người trả lời rằng: Tôi không biết.
12Nihcae mah anih khaeah, To kami loe naa ah maw oh? tiah dueng o. Anih mah, Ka panoek ai, tiah a naa.
13Chúng dẫn người trước đã mù đó đến cùng người Pha-ri-si.
13Nihcae mah mikmaeng to Farasinawk khaeah hoih o.
14Vả, ấy là ngày Sa-bát mà Đức Chúa Jêsus đã hòa bùn và mở mắt cho người đó.
14Sabbath niah Jesu mah long to kanaem ah pathluem moe, mikmaeng to ngantuisak.
15Người Pha-ri-si lại hỏi người thế nào được sáng mắt lại. Người rằng: Người ấy rà bùn vào mắt tôi, tôi rửa rồi thấy được.
15Farasinawk mah doeh na mik loe kawbangmaw amtueng, tiah dueng o. Anih mah nihcae khaeah, Anih mah long kanaem to ka mik ah ang nok pae, tui hoiah mik ka pasaeh naah, ka mik hae amtueng, tiah a naa.
16Có mấy kẻ trong những người Pha-ri-si bèn nói rằng: Người nầy không phải từ Đức Chúa Trời đến đâu, vì không giữ ngày Sa-bát. Nhưng kẻ khác rằng: Một kẻ có tội làm phép lạ như vậy thể nào được? Rồi họ bèn chia phe ra.
16To naah thoemto Farasinawk mah, Hae kami loe Sabbath ni za ai pongah, Sithaw khae ih kami na ai ni, tiah thuih o. Kalah kaminawk mah loe, Kazae kami mah kawbangmaw hae baktih dawnrai hmuennawk to sah tih, tiah a naa o. To pongah maeto hoi maeto ampraek o.
17Bấy giờ chúng hỏi người mù nữa rằng: Còn ngươi, về người đã làm sáng mắt ngươi đó thì ngươi nói làm sao? Người trả lời rằng: Aáy là một đấng tiên tri.
17Nihcae mah mikmaeng khaeah, Na mik amtuengsak kami to kawbangmaw na poek? tiah dueng o let. To naah anih mah, To kami loe Tahmaa ni, tiah a naa.
18Song le, người Giu-đa không tin rằng người ấy trước đã mù mà được sáng lại, cho đến khi gọi cha mẹ người đến.
18Toe Judahnawk mah hae kami loe mikmaengh, toe vaihi loe mik amtueng boeh, tito mik amtueng kami ih amno hoi ampa kawk ai karoek to tang o ai.
19Họ gạn hỏi rằng: Đây có quả thật là con trai các ngươi mà các ngươi nói rằng nó mù từ thuở sanh ra chăng? Thế thì, sao bây giờ nó sáng vậy?
19Nihcae mah to kami ih amno hoi ampa khaeah, Anih loe tapen tangsuek nathuem hoiah mik a maeng boeh, tiah na thuih hoi ih nanghnik ih capa maw? Kawbangmaw vaihi anih ih mik amtueng pae? tiah dueng o.
20Cha mẹ người trả lời rằng: Chúng tôi nhìn biết là con trai chúng tôi đó đã mù từ thuở sanh ra;
20Anih ih amno hoi ampa mah nihcae khaeah, Hae kami loe kaihnik ih capa ni, anih loe tapen tangsuek na hoiah mikmaeng boeh:
21nhưng hiện nay tại làm sao thấy được, thì chúng tôi không rõ. Chúng tôi cũng không biết ai mở mắt nó nữa. Hãy hỏi nó, nó đã đủ tuổi, chính nó sẽ nói cho.
21toe kawbangmaw vaihi a mik amtueng pae let, mi mah maw a mik amtuengsak, tito ka panoek hoi ai: anih loe saning akoep boeh: to pongah angmah khaeah dueng oh: anih mah angmah kawng to thui tih hmang, tiah a naa hoi.
22Cha mẹ người nói vậy, vì sợ dân Giu-đa; bởi dân Giu-đa đã định rằng hễ ai xưng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, thì phải bị đuổi ra khỏi nhà hội.
22Mi kawbaktih doeh Anih loe Kri ni, tiah thui kami loe sineko hoiah pathok si, tiah Judahnawk palung adue o; Judah kaminawk to a zit hoi pongah ni, anih ih amno hoi ampa mah to tiah lokthuih hoi.
23Aáy vì cớ đó nên cha mẹ người nói rằng: Nó đã đủ tuổi, hãy hỏi nói.
23To pongah, anih ih amno hoi ampa mah anih loe saning akoep boeh; angmah khaeah dueng oh, tiah a thuih pae hoi.
24Vậy, người Pha-ri-si gọi người trước đã mù một lần nữa, mà nói rằng: Hãy ngợi khen Đức Chúa Trời, chúng ta biết người đó là kẻ có tội.
24Nihcae mah mikmaeng to kawk o let moe, anih khaeah, Sithaw to mah pakoeh ah: hae kami loe kami zae, tiah ni ka panoek o, tiah a naa o.
25Người trả lời rằng: Tôi chẳng biết người có phải là kẻ có tội chăng, chỉ biết một điều, là tôi đã mù mà bây giờ lại sáng.
25Anih mah, Hae kami loe kami zae maw, kami zae ai, tito ka panoek ai: hmuen maeto ka panoek ih oh, kai loe canghniah mik ka maengh, toe vaihi loe mik amtueng boeh, tiah a naa.
26Họ lại hỏi rằng: Người đã làm điều gì cho ngươi? mở mắt ngươi thể nào?
26To naah nihcae mah anih khaeah, Anih mah tih maw ang sak pae? Anih mah na mik to kawbangmaw amtuengsak? tiah dueng o let.
27Người trả lời rằng: Tôi đã nói với các ông rồi, mà các ông chẳng nghe tôi. Cớ sao các ông muốn nghe lại lần nữa? Há cũng muốn làm môn đồ người chăng?
27Anih mah nihcae khaeah, Kang thui o boeh, toe na tahngai o ai: tikhoe thaih let han na koeh o loe? Nangcae doeh Anih hnukbang kami ah oh hanah na koeh o maw? tiah a naa.
28Họ bèn mắng nhiếc người, mà rằng: Aáy, chính ngươi là môn đồ người; còn chúng ta là môn đồ của Môi-se.
28To naah nihcae mah anih to zoeh o, Nang loe Anih hnukbang kami ah na oh, toe kaicae loe Mosi hnukbang kami ah ni ka oh o.
29Chúng ta biết Đức Chúa Trời đã phán cùng Môi-se, nhưng người nầy, thì chúng ta chẳng biết bởi đâu đến.
29Sithaw mah Mosi khaeah ni lokthuih pae, tito ka panoek o: toe hae kami loe naa ih kami maw, tito ka panoek o ai, tiah a naa o.
30Người trả lời rằng: Người đã mở mắt tôi, mà các ông chẳng biết người bởi đâu đến, ấy là sự lạ lắm!
30To kami mah nihcae khaeah, Dawnrai han oh, Anih loe naa ih kami maw, tito na panoek o ai, toe anih mah ni ka mik hae amtuengsak.
31Chúng ta vẫn biết Đức Chúa Trời chẳng nhậm lời kẻ có tội, mà nếu ai kính sợ Đức Chúa Trời, làm theo ý muốn Ngài, thì Ngài nhậm lời.
31Sithaw mah kami zaenawk ih lok tahngai ai, tito a panoek o: toe Sithaw to bok moe, a koehhaih sah kami ih lok loe, Anih mah tahngai pae.
32Người ta chẳng bao giờ nghe nói có ai mở mắt kẻ mù từ thuở sanh ra.
32Tapen tangsuek na hoi kaom mikmaeng to mik amtuengsak, tiah long oh tangsuek na hoi mi mah doeh thai vai ai vop.
33Nếu người này chẳng phải đến từ Đức Chúa Trời, thì không làm gì được hết.
33Hae kami loe Sithaw ih kami ai nahaeloe, anih mah tidoeh sah thai mak ai, tiah a naa.
34Chúng trả lời rằng: Cả mình ngươi sanh ra trong tội lỗi, lại muốn dạy dỗ chúng ta sao! Đoạn, họ đuổi người ra ngoài.
34Nihcae mah anih khaeah, Kami zae ah tapen nang mah kaicae hae nang patuk maw? tiah a naa o. Anih to tasa bangah pathok o ving.
35Đức Chúa Jêsus nghe họ đã đuổi người ra, và Ngài có gặp người, bèn phán hỏi rằng: Ngươi có tin đến Con Đức Chúa Trời chăng?
35Nihcae mah mikmaeng to haek o ving, tiah Jesu mah thaih; Jesu mah mikmaeng to hnuk naah, anih khaeah, Kami Capa to na tang maw? tiah a naa.
36Người thưa rằng: Thưa Chúa, người là ai hầu cho tôi tin đến?
36To naah mikmaeng mah Jesu khaeah, Angraeng, Anih to ka tang thai hanah, Anih loe mi maw? tiah a naa.
37Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ngươi đã thấy người, và ấy là chính người đang nói cùng ngươi.
37Jesu mah anih khaeah Anih to na hnuk boeh bae, nang hoi lokpae kami loe anih to boeh ni, tiah a naa.
38Người thưa rằng: Lạy Chúa, tôi tin; bèn sấp mình xuống trước mặt Ngài.
38To naah mikmaeng mah, Angraeng, Ka tang, tiah thuih moe, Anih to a bok.
39Đức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Ta đã đến thế gian đặng làm sự phán xét nầy: Hễ ai chẳng thấy, thì thấy; còn ai thấy, lại hóa mù.
39Jesu mah, Kai loe mikmaengnawk mik amtuengsak moe, mik amtueng kaminawk mikmaengsak han hoi lokcaek han ih ni hae long nuiah kang zoh, tiah a naa.
40Mấy người Pha-ri-si bên cạnh Ngài nghe điều đó, thì nói với Ngài rằng: Còn chúng ta cũng là kẻ mù chăng?
40Anih khae kaom thoemto Farasinawk mah to loknawk to thaih o naah, anih khaeah, Kaicae doeh mik ka maengh o maw? tiah a naa o.
41Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Nếu các ngươi là kẻ mù, thì không có tội lỗi chi hết; nhưng vì các ngươi nói rằng: Chúng ta thấy, nên tội lỗi các ngươi vẫn còn lại.
41Jesu mah nihcae khaeah, Mik na maeng o nahaeloe, zaehaih na tawn o mak ai: toe kaicae loe mik amtueng, tiah vaihi na thuih o pongah, zaehaih na tawnh o, tiah a naa.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.