Gi 7
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Kế đó, Đức Chúa Jêsus đi khắp xứ Ga-li-lê. Ngài không ưng đi trong xứ Giu-đê, bởi dân Giu-đa vẫn tìm phương giết Ngài.
1MAHOPE iho o ia mau mea, kaahele ae la o Iesu i Galilaia: aole ona makemake e kaahele i Iudea, no ka mea, ua imi na Iudaio e pepehi ia ia.
2Vả, ngày lễ của dân Giu-đa, gọi là lễ Lều Tạm gần đến.
2A ua kokoke mai no ka ahaaina kaubalelewa a na Iudaio.
3Anh em Ngài nói rằng: Hãy đi khỏi đây, và qua xứ Giu-đê, để cho các môn đồ cũng được xem công việc thầy làm.
3No ia mea, olelo aku la kona mau hoabanau ia ia, E haalele oe i keia wahi, a e hele aku i Iudea, i ike ai kau poe haumana i na hana au e hana'i.
4Khi nào người ta muốn tỏ mình ra, thì không ai làm kín giấu việc gì. Vì thầy làm những sự đó, hãy tỏ mình cho thiên hạ.
4No ka mea, aohe mea hana malu, ke makemake ia e ikeia mai oia. Ina e hana oe i keia mau mea, e hoike aku oe ia oe iho i ko ke ao nei.
5Bởi chưng chính các anh em Ngài không tin Ngài.
5Aole nae o kona poe hoahanau i manaoio ia ia.
6Đức Chúa Jêsus phán cùng anh em rằng: Thì giờ ta chưa đến; còn về các ngươi, thì giờ được tiện luôn luôn.
6Olelo mai la o Iesu ia lakou, Aole i hiki mai ko'u manawa: aka, o ko oukou mauawa ua maopopo mau no ia.
7Thế gian chẳng ghét các ngươi được; nhưng ghét ta, vì ta làm chứng nầy về họ rằng công việc họ là ác.
7Aole e inaina mai ko ke ao nei ia oukou; ke inaina mai nei no nae lakou ia'u, no ka mea, owau ke hoike aku no lakou, ua hewa ka lakou hana ana.
8Các ngươi hãy lên dự lễ nầy, còn ta chưa lên dự lễ đó, vì thì giờ ta chưa trọn.
8O oukou ke pii i keia ahaaina: aole au e pii ano 1 keia ahaaina; no ka mea, aole i hiki maopopo mai ko'u mauawa.
9Ngài nói xong, cứ ở lại xứ Ga-li-lê.
9A pau ae la kana olelo ana ia mau mea ia lakou, noho iho ia i Galilaia.
10Lúc anh em Ngài đã lên dự lễ rồi, thì Ngài cũng lên, nhưng đi cách kín giấu, không tố lộ.
10A pii aku la kona poe hoabanau, alaila pii main aku la ia i ka ahaaina, aole i ikea.
11Vậy, các người Giu-đa tìm Ngài trong ngày lễ, và nói rằng: Nào người ở đâu?
11Nolaila imi iho la ka poe Iudaio ia ia ma ka ahaaina, a ninau ae la lakou, Auhea oia!
12Trong đám đông có tiếng xôn xao bàn về Ngài. Người thì nói: Aáy là một người lành; kẻ thì nói: Không phải; người phỉnh dỗ dân chúng!
12A nui loa ae la ka hoopaapaa ana o uaahakanaka la nona; olelo mai la kekahi poe, He maikai oia: i mai la kekahi poe, Aole, ke hoopunipuni mai nei ia i na kanaka.
13Song chẳng ai dám nói về Ngài tỏ tường, vì sợ dân Giu-đa.
13Aole nae kekahi i olelo mai nona ma ke akea, no ka makau i ka poe Iudaio.
14Giữa k” lễ, Đức Chúa Jêsus lên đền thờ dạy dỗ.
14Iwaena o ka ahaaina, pii mai la o Iesu iloko o ka luakini, a ao mai la.
15Các người Giu-đa sững sờ mà nói rằng: Người nầy chưa từng học, làm sao biết được Kinh Thánh?
15A kahaha iho la ka naau o na Iudaio, i ae la, Pehea la i ike ai oia nei i ka palapala, aole ia i aoia?
16Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Đạo lý của ta chẳng phải bởi ta, nhưng bởi Đấng đã sai ta đến.
16Olelo mai la o Iesu ia lakou, i mai la, O ka'u mea e ao aku nei, aole na'u ia, aka, na ka mea nana au i hoouna mai.
17Nếu ai khứng làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời, thì sẽ biết đạo lý ta có phải là bởi Đức Chúa Trời, hay là ta nói theo ý ta.
17Ina makemake kekahi e hana i kona makemake, e ike no ia i ka mea a'u e olelo nei, na ke Akua mai ia, aole na'u iho.
18Kẻ nói theo ý mình, thì tìm vinh hiển riêng mình; nhưng kẻ tìm vinh hiển của Đấng đã sai mình đến, mới là chân thật, và chắc trong mình không có điều gì không công bình đâu.
18O ka mea e olelo aku i kana iho, oia ke imi e hoonani ia ia iho: aka, o ka mea i imi e hoonani i ka mea nana ia i hoouna mai, he oiaio kana, aole he wahahee iloko ona.
19Môi-se há chẳng ban luật pháp cho các ngươi sao? Mà trong các ngươi không có một ai tuân theo luật pháp! Cớ sao các ngươi kiếm thế giết ta?
19Aole anei o Mose i haawi mai ia oukou i ke kanawai, aole hoi kekahi o oukou e malama i ke kanawai? No ke aha la oukou e imi nei e pepehi ia'u?
20Dân chúng trả lời rằng: Ngươi bị quỉ ám, nào ai là người tìm thế giết ngươi?
20Olelo aku la ka ahakanaka, i aku la, He daimonio kou, owai la ke imi e pepehi ia oe?
21Đức Chúa Jêsus đáp lại rằng: Ta đã làm một việc, các ngươi thảy đều lấy làm lạ.
21Olelo mai la o Iesu, i mai la ia lakou, Ua hana iho nei au i kekahi hana, a kahaha ko oukou naau a pau ia mea.
22Môi-se đã truyền phép cắt bì cho các ngươi (phép đó không phải bởi Môi-se, nhưng bởi tổ tông), và các ngươi làm phép cắt bì cho người đàn ông trong ngày Sa-bát!
22Na Mose i haawi mai ia oukou ke okipoepoe, aole nae na Mose mai ia, na ka poe kupuna mai; a ke okipoepoe nei oukou i ke kanaka i ka la Sabati.
23Nếu người đàn ông chịu phép cắt bì ngày Sa-bát, cho khỏi phạm luật pháp Môi-se, thì sao ta chữa cho cả mình người bịnh được lành trong ngày Sa-bát, mà các ngươi lại nổi giận?
23Ina e okipoepoeia ke kanaka i ka la Sabati, i hai ole ia'i ke kanawai o Mose, ke huhu mai nei anei oukou ia'u, i kuu hoola ana i ke kanaka i ka la Sabati?
24Đừng cứ bề ngoài mà xét đoán, nhưng phải xét đoán theo lẽ công bình.
24Mai manao oukou ma ka mea owaho, aka, ma ka pono io oukou e manao ai.
25Có mấy kẻ trong dân thành Giê-ru-sa-lem nói rằng: Đó có phải là người mà người ta tìm giết chăng?
25Alaila olelo ae la kekahi poe no Ierusalema, Aole anei keia ka mea a lakou e imi nei e pepehi?
26Kìa, người nói tự do, mà không ai nói chi người hết. Dễ thường các quan đã nhận thật người là Đấng Christ?
26Aia hoi, ke olelo wiwo ole mai nei ia, aole lakou e olelo aku ia ia. Ua ike maopopo anei ka poe alii, oia no ka Mesia?
27Thế mà, chúng ta biết người nầy từ đâu lại; song khi Đấng Christ sẽ đến, thì không ai biết Ngài từ đâu đến.
27Ua ike no kakou i kahi i hele mai ai keia: aka, aia hiki mai ka Mesia, aole e ike kekahi i kona wahi i hele mai ai.
28Bấy giờ, Đức Chúa Jêsus đang dạy trong đền thờ, thì kêu lên rằng: Các ngươi quen ta, các ngươi biết ta từ đâu lại! Ta đã đến chẳng phải tự ta, nhưng Đấng đã sai ta đến là thật, mà các ngươi không biết Ngài.
28Nolaila kahea mai la o Iesu i kana ao ana iloko o ka luakini, i mai la, Ua ike oukou ia'u, ike hoi oukou i ko'u wahi i hele mai ai; aole, au i hele mai no'u iho, aka, o ka mea nana au i hoouna mai, he oiaio ia, ka mea a oukou i ike ole ai.
29Ta thì biết Ngài; vì ta từ Ngài đến, và Ngài là Đấng đã sai ta đến.
29Owau ka i ike ia ia; no ka mea, nona mai wau, a nana hoi au i hoouna mai.
30Vậy, họ kiếm thế bắt Ngài; nhưng không ai tra tay trên Ngài, vì giờ Ngài chưa đến.
30No ia mea, imi iho la lakou e hopu ia ia; aole nae i lalau aku kekahi lima ia ia, no ka mea, aole i hiki mai kona manawa.
31Song trong vòng dân chúng nhiều kẻ tin Ngài, nói rằng: Khi Đấng Christ đến, sẽ có làm nhiều phép lạ hơn người nầy đã làm chăng?
31Aka, nui na mea o na ahakanaka la i manaoio ia ia, i iho la, Aia hiki mai ka Mesia, e oi aku anei na hana mana ana e hana mai ai, mamua o na mea a keia kanaka i hana'i?
32Người Pha-ri-si nghe lời đoàn dân nghị luận về Ngài, thì mấy thầy tế lễ cả đồng tình với họ, cắt lính đi bắt Ngài.
32Lohe ae la na Parisaio i ka ohumu ana o ua ahakanaka la i keia mau mea nona; hoouna aku la na Parisaio a me na kahuna nui i na ilamuku e lalau ia ia.
33Đức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Ta còn ở với các ngươi ít lâu nữa; rồi ta đi về cùng Đấng sai ta đến.
33Alaila olelo mai la o Iesu ia lakou, Aole au e liuliu me oukou, a hoi aku au i ka mea nana au i hoouna mai.
34Các ngươi sẽ kiếm ta mà chẳng thấy, và nơi ta ở, các ngươi không thể đến được.
34E imi auanei oukou ia'u aole e loaa; a ma ko'u wahi e noho ai, aole loa oukou e hiki aku.
35Các người Giu-đa nói với nhau rằng: Thế thì người sẽ đi đâu mà ta không tìm được? Có phải người sẽ đi đến cùng những kẻ lưu lạc trong dân Gờ-réc và dạy dân Gờ-réc chăng?
35No ia mea, ninau iho la na Iudaio ia lakou iho, Mahea anei oia e hele ai, i loaa ole ai oia ia kakou? e hele anei ia i ka poe i puehu liilii iwaena o na Helene, a e ao aku i na Helene?
36Người đã nói rằng: Các ngươi sẽ tìm ta, mà chẳng thấy, và nơi ta ở, các ngươi không thể đến được, ấy là nghĩa làm sao?
36Heaha hoi keia mea ana i olelo mai nei, E imi auanei oukou ia'u, aole e loaa; a ma ko'u wahi e noho ai, aole loa oukou e hiki aku?
37Ngày sau cùng, là ngày trọng thể trong k” lễ, Đức Chúa Jêsus ở đó, đứng kêu lên rằng: Nếu người nào khát, hãy đến cùng ta mà uống.
37I ka la nui ma ka hope o ua ahaaina la, ku ae la o Iesu, kahea aku la, i ka i ana'e, Ina e makewai kekahi, e hele mai ia io'u nei e inu.
38Kẻ nào tin ta thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng mình, y như Kinh Thánh đã chép vậy.
38O ka mea e manaoio ia'u, e like me ka ka palapala hemolele ii mai ai, e kahe mau mai na muliwai noloko mai o kona opu.
39Ngài phán điều đó chỉ về Đức Thánh Linh mà người nào tin Ngài sẽ nhận lấy; bởi bấy giờ Đức Thánh Linh chưa ban xuống, vì Đức Chúa Jêsus chưa được vinh hiển.
39(O keia kana i olelo ai no ka Uhane, ka mea e loaa auanei i ka poe e manaoio ia ia: aole i hiki mai ka Uhane Hemolele ia manawa, no ka mea, aole i hoonaniia o Iesu ia wa.)
40Trong đoàn dân có nhiều người nghe những lời đó, thì nói: Người nầy thật là đấng tiên tri. Người khác thì nói: Aáy là Đấng Christ.
40No ia hoi, ho nui ka poe o ua ahakanaka la i ko lakou lohe ana ia olelo, olelo iho la lakou, He oiaio, o ke Kaula keia.
41Người khác nữa lại nói: Đấng Christ há từ Ga-li-lê mà đến sao?
41Olelo mai la kekahi poe, O ka Mesis keia. Aka, ninau ae la kekahi poe, E hele mai anei ka Mesia no Galilaia mai?
42Kinh Thánh há chẳng nói rằng Đấng Christ phải ra từ dòng dõi vua Đa-vít, làng Bết-lê-hem, là làng vua Đa-vít sao?
42Aole anei i i mai ka palapala hemolele, Na na mamo a Davida mai ka Mesia, a no Betelehema mai, ke kulanakauhale o Davida?
43Vậy, dân chúng cãi lẽ nhau về Ngài.
43Ku e iho la kekahi poe me kekahi poe nona.
44Có mấy kẻ trong đám dân muốn bắt Ngài, nhưng không ai đặt tay trên mình Ngài.
44Makemake iho la kekahi poe e hopu ia ia, aole nae kekahi i kau aku i ka lima maluna ona.
45Vậy bọn lính trở về cùng các thầy tế lễ cả và các người Pha-ri-si. Những người nầy hỏi họ rằng: Sao các ngươi không điệu người đến?
45Alaila hoi mai la na ilamuku i na kahuna nui a me ka poe Parisaio; a ninau mai la lakou ia lakou la, No ke aha la i lawe ole mai ai oukou ia ia?
46Bọn lính thưa rằng: Chẳng hề có người nào đã nói như người nầy!
46I aku la na ilamuku, Aole loa he kanaka i olelo like me keia kanaka.
47Những người Pha-ri-si nói rằng: Các ngươi cũng đã bị phỉnh dỗ sao?
47Ninau mai la na Parisaio ia lakou, O oukou anei kekahi i hoopunipuniia?
48Có một người nào trong các quan hay là trong những người Pha-ri-si tin đến người đó chăng?
48Ua manaoio no anei kekahi o ka poe alii, a me na Parisaio ia ia?
49Song lũ dân nầy không biết luật chi cả, thật là dân đáng rủa!
49Aka, o keia ahakanaka ike ole i ke kanawai, na hoohewaia lakou.
50Ni-cô-đem (là người trước có đến cùng Đức Chúa Jêsus và là một người trong đám họ) nói rằng:
50Ninau ae la o Nikodemo ia lakou, (o ka mea i hele io na la i ka po, oia kekahi o lakou,)
51Luật chúng ta há bắt tội một người nào chưa tra hỏi đến, và chưa biết điều người ấy đã làm, hay sao?
51Ke hoohewa nei anei ko kakou kanawai i ke kanaka mamua o ka lohe ana ia ia, a ike hoi i kana mea i hana'i?
52Họ trả lời rằng: Ngươi cũng là người Ga-li-lê sao? Ngươi hãy tra xét, sẽ thấy rằng chẳng có tiên tri nào từ xứ Ga-li-lê mà ra hết.
52Olelo mai la lakou ia ia, i mai la, No Galilaia anei oe? E imi, a ike oe, aohe kaula noloko mai o Galilaia.
53Ai nấy đều trở về nhà mình.
53A hoi aku la kela mea keia mea i kona hale iho.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.